Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 29/09/2008
Độc lập dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh


Bác Hồ với đại biểu đồng bào các dân tộc tỉnh Lào Cai.

Tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia là nét nổi bật trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Lịch sử nước ta đã ghi đậm những trang đấu tranh hào hùng giành và giữ nền độc lập thiêng liêng của Tổ quốc. Từ thế kỷ thứ V, Lý Bí lãnh đạo nhân dân ta đánh đuổi giặc Lương.

Thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt đã tuyên bố Việt Nam không phải là thuộc quốc của phương Bắc mà là một quốc gia có chủ quyền. Tiếp đó, thế kỷ XV Nguyễn Trãi một lần nữa khẳng định về chủ quyền của Đại Việt khi viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Cõi bờ sông núi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác…”(Bình Ngô Đại Cáo).

Đến thời đại Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là niềm khát khao cháy bỏng, là mục tiêu trước hết của cách mạng Việt Nam, và là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của cả dân tộc. Người sớm nhận ra hạn chế của con đường cứu nước của các bậc tiền bối và Người mong muốn tìm ra con đường cứu nước, đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại nền độc lập dân tộc đã bị mất vào tay giặc Pháp. Và cũng chính mục tiêu giành lại độc lập dân tộc đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin - đến với chân lý của thời đại. Từ yêu nước chân chính, Hồ Chí Minh đã trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đây là bước nhảy vọt, một sự thay đổi về chất trong tư tưởng và lập trường chính trị của Người. Bước chuyển đó phù hợp với trào lưu tiến bộ của thời đại và lôi cuốn cả lớp người Việt Nam yêu nước đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trong những năm ở Liên Xô, với những hiểu biết sâu sắc về tình hình thế giới và đặc điểm cách mạng Việt Nam, Người kiên trì bảo vệ các quan điểm của mình về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc. Tư tưởng này của Người đã nêu ra trong Chính cương vắn tắt do Người soạn thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước đã xác định rõ mục tiêu chính trị của Đảng là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”. Theo Người, giành độc lập dân tộc là mục tiêu trước hết và bao trùm của cách mạng Việt Nam.

Khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra và đi vào giai đoạn quyết liệt, Người thấy đây là thời cơ cho Việt Nam giành độc lập. Đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, chủ trì Hội nghị Trung ương 8, chủ trương “giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc”, chỉ đạo chuyển hướng chiến lược của Đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc cao hơn hết. Trong Thư Kính cáo đồng bào, Người chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr.198). Sau đó, Người cùng Trung ương Đảng chuẩn bị mọi mặt để khi thời cơ đến sẽ phát động toàn dân tộc nổi dậy giành chính quyền. Giữa tháng Tám năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, thời cơ “ngàn năm có một” xuất hiện, ý chí của Hồ Chí Minh và cũng là ý chí toàn dân tộc “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 trước hàng chục vạn đồng bào tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh long trọng tuyên bố với quốc dân và thế giới về nền độc lập của Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập.

Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Tháng 9/1945, thực dân Pháp đem theo quân Anh gây hấn ở Nam Bộ hòng cướp nước ta một lần nữa - vận mệnh đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, Trung ương Đảng, Chính phủ ra chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc khẳng định “cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng... Khẩu hiệu vẫn là: “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”. “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lăng, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”. Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là kháng chiến và kiến quốc. Chính nhờ có tư duy đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kháng chiến vừa kiến quốc, biết nhân nhượng có nguyên tắc mà nhân dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị các điều kiện cho cuộc kháng chiến lâu dài. Người nói: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước” (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến). Mặc dù Người biết rất rõ rằng chiến tranh sẽ mang lại tổn thất, song trước dã tâm và hành động xâm lược của kẻ thù, để giữ vững độc lập dân tộc cần phải sử dụng chiến tranh, và đó là cuộc chiến tranh nhân dân, mang tính chất toàn dân toàn diện, trường kỳ và chính nghĩa, một cuộc chiến tranh của một dân tộc đứng lên chống lại thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập của dân tộc.

Khi đế quốc Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi chống Mĩ cứu nước, Người khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó là chân lí của thời đại, là ý chí và lẽ sống, của dân tộc Việt Nam. Đáp lại Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã dấy lên các phong trào thi đua yêu nước, nở rộ các hành động anh hùng cách mạng, chịu đựng gian khổ, kiên cường chiến đấu sáng tạo, làm thất bại các loại chiến tranh của đế quốc Mỹ và cuối cùng buộc chúng phải ký Hiệp định Pari, với cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút quân viễn chinh về nước. Với tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tư do” của Người, quân và dân ta đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược tàn ác nhất, quy mô lớn nhất của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Theo Hồ Chí Minh, có độc lập dân tộc mới có điều kiện mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nước mất độc lập thì nhân dân cũng phải chịu kiếp ngựa trâu. Do đó phải kiên quyết giành độc lập dân tộc. Khi đã có độc lập thì phải kiên quyết giữ, kể cả việc phải sử dụng phương thức không mong muốn là chiến tranh. Và khi đã có độc lập dân tộc phải từng bước mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đồng bào.

Thế giới đang đổi thay nhanh chóng và có nhiều tác động tới đất nước ta. Tình hình mới hiện nay đang đặt ra cho chúng ta yêu cầu cần phải nhận thức và giải quyết thật tốt nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc. Rõ ràng là, độc lập không đồng nghĩa với cô lập, đóng cửa. Trong lịch sử đã có những thời kỳ một số nước để bảo vệ độc lập dân tộc đã thực hiện việc “bế quan tỏa cảng”, không quan hệ với nước khác, nhưng kết cục của chính sách đó là tự làm suy yếu mình. Do đó độc lập ở đây với nghĩa là không lệ thuộc vào bên ngoài, là cân bằng được các mối quan hệ: quan hệ đối ngoại, quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ văn hóa… Trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự đan xen phức tạp của các mối quan hệ quốc tế đòi hỏi kiên quyết giữ vững độc lập dân tộc. Trên cơ sở độc lập và không ngừng mở rộng quan hệ về kinh tế xây dựng nền chính trị độc lập, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo, sáng suốt và có đối sách thích hợp, chủ động. Trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc, với quan điểm “Nếu không có thực lực thì ta chỉ là khí cụ trong tay kẻ khác, dầu kẻ đó là bạn đồng minh của ta vậy”, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã rất chú trọng xây dựng thực lực cho cách mạng, để dựa vào đó mà chống lại kẻ thù. Ngoài ra, Người còn kêu gọi sự giúp đỡ của bè bạn quôc tế ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Do đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta, như Hồ Chí Minh chỉ rõ, chính phủ Mỹ không chỉ chịu sự đấu tranh quyết liệt của nhân dân ta mà còn vấp phải sự chống đối ngay tại nước Mỹ là phong trào phản chiến của nhân dân tiến bộ Mỹ. Hồ Chí Minh đã nêu ra nguyên tắc cơ bản trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam là “Làm bạn với mọi nước dân chủ và không gây thù oán với ai”. Chính vì vậy, theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế. Và bản thân Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để mở rộng quan hệ giữa Việt Nam với bè bạn quốc tế.

Trong giai đoạn hiện nay, để giữ vững độc lập dân tộc, chúng ta quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo thực lực, sức mạnh thực sự để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời tranh thủ, tận dụng các nguồn lực từ bên ngoài cùng với việc phát huy tối đa nội lực nhằm phát triển đất nước. Thường xuyên và không ngừng củng cố tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm động lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Để làm được điều này cần giải quyết một cách hài hòa lợi ích giữa các nhóm người và các vùng đất nước. Riêng ở vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, nơi có đa số đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống đã và đang đặt ra những vấn đề cấp bách trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Đây là vùng “phên dậu” của đất nước, có địa hình hiểm trở, phức tạp, dân cư thưa thớt, là nơi có trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục… kém phát triển, nhiều hủ tục còn tồn tại, ảnh hưởng tới công cuộc phát triển kinh tế văn hóa và quốc phòng an ninh. Các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, gây chia rẽ, ly khai dân tộc, ảnh hưởng tới sự toàn vẹn và thống nhất của đất nước. Quan tâm giữ gìn sự ổn định ở biên giới, ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số là tiền đề cho sự ổn định và phát triển của đất nước. Xưa, cha ông ta đã có nhiều phương sách để giữ vững biên cương. Các vua nhà Lý đã gả các công chúa cho các tù trưởng để gắn kết họ với triều đình. Lê Lợi đã nhắc nhở: “Biên phòng hảo vị trù phương lược. Xã tắc ưng tu kế cửu an” (Biên phòng cần có phương lược tốt/ Giữ nước nên có kế dài lâu). Ngày nay, để giữ nước nhất thiết Đảng và Nhà nước phải quan tâm về mọi mặt đối với vùng có vị trí chiến lược này. Mối quan hệ biện chứng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là: an dân để giữ nước và giữ nước để an dân. Chỉ có không ngừng nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần của đồng bào đi đôi với tuyên truyền, giáo dục mới làm cho đồng bào tin Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch. Phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải biết dựa vào dân, xây dựng lực lượng của dân đi đôi với phát triển lực lượng chuyên trách trong bảo vệ Tổ quốc, huy động toàn dân tham gia bảo vệ biên giới, phát huy uy tín của người cao tuổi, của các già làng, trưởng bản ở vùng đồng bào dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia.

Phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế cho đồng bào các dân tộc thiểu số không chỉ có ý nghĩa ở việc cải thiện và nâng cao đời sống đồng bào, mà còn có ý nghĩa trong việc bảo vệ và giữ gìn độc lập và chủ quyền của Tổ quốc, bảo đảm sự ổn định và phát triển của cả quốc gia dân tộc.

Nguyễn Đức Hòa

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách: 59
Thành viên: 0
Tổng số: 59
Số người truy cập: 49,681,837


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs