Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/12/2006
Cần thống nhất xác nhận thành phần dân tộc
Trong thời bao cấp rất ít khi đồng bào dân tộc thiểu số “đi đòi” lợi ích của mình, nhưng đến nay tình hình đã khác. Qua kiểm tra thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các địa phương đặc biệt là những vấn đề liên quan đến lợi ích hợp pháp của đồng bào dân tộc thiểu số.

Một trong những vấn đề liên quan đó là việc xác định thành phần dân tộc. Đồng chí Nguyễn Văn Bảy, Phó vụ trưởng, Vụ Chính sách Dân tộc (Uỷ ban Dân tộc) cho biết: “Việc xác nhận thành phần dân tộc đang gây ra nhiều khó khăn, phức tạp cho đồng bào dân tộc thiểu số”. Để làm rõ vấn đề này, ngày 26/10/2006, Vụ Chính sách Dân tộc đã tổ chức hội nghị với sự tham gia của Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội, Văn phòng Chính phủ và Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Pháp chế (Uỷ ban Dân tộc); tại hội nghị này, các đại biểu cùng nhau nhìn nhận, đánh giá thực trạng tình hình xác nhận thành phần dân tộc đang diễn ra ở các địa phương. Theo số liệu của Vụ Chính sách Dân tộc: Có trên 90% đối tượng có nhu cầu xác nhận thành phần dân tộc là học sinh, sinh viên liên quan đến chính sách ưu tiên trong giáo dục, đào tạo (như cấp giấy, vở; ưu tiên điểm thi vào các trường đại học, cao đẳng; cử tuyển); còn dưới 10% là những người liên quan đến vay vốn phát triển sản xuất, miễn giảm thuế và các vấn đề liên quan đến y tế (khám, chữa bệnh). Vậy cơ quan nào có thẩm quyền xác nhận thành phần dân tộc cho các đối tượng thụ hưởng chính sách dân tộc? Cũng qua kiểm tra cho thấy: Phần lớn việc xác nhận thành phần dân tộc do cơ quan công tác dân tộc ở tỉnh, huyện và cả Trung ương xác nhận, ngoài ra còn có Uỷ ban nhân dân huyện cùng xác nhận. Như vậy về thẩm quyền xác nhận thành phần dân tộc đến thời điểm này đang song song tồn tại ít nhất là hai cơ quan, điều này trái với yêu cầu cải cách hành chính hiện nay. Về căn cứ để xác nhận thành phần dân tộc ở các địa phương cũng rất khác nhau, bởi lí do đơn giản là chưa có văn bản của cấp thẩm quyền quy định thống nhất, vì thế mỗi địa phương làm một kiểu: Tỉnh Đăk Nông và Kon Tum căn cứ vào giấy khai sinh, hộ khẩu, chứng minh nhân dân (bản gốc hoặc công chứng), đơn xin xác nhận thành phần dân tộc của cá nhân có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.

Tỉnh Quảng Ngãi, ngoài các căn cứ như ở tỉnh Đăk Nông và Kon Tum lại yêu cầu đơn xin xác nhận thành phần dân tộc phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

Tỉnh Yên Bái lại có cách làm khác, chỉ căn cứ vào các giấy tờ như các tỉnh nêu trên, nhưng không yêu cầu cấp thẩm quyền xác nhận vào đơn của đương sự.

Còn tỉnh Ninh Thuận và Sóc Trăng cũng dựa vào các giấy tờ tuỳ thân nêu trên nhưng lại xác nhận trực tiếp vào đơn của người có nhu cầu. Tình hình xác nhận thành phần dân tộc cũng rất khác nhau: Tỉnh Đăk Nông, Kon Tum, Quảng Ngãi, Yên Bái căn cứ vào hồ sơ gốc, Ban Dân tộc tỉnh cấp cho người có nhu cầu một Giấy chứng nhận thành phần dân tộc theo mẫu thiết kế của Ban; tỉnh Ninh Thuận và Sóc Trăng lại xác nhận trực tiếp vào đơn của người có nhu cầu.

Đối với tỉnh Đăk Nông do nhu cầu của đồng bào dân tộc quá lớn nên đã giành riêng 2 ngày/tuần để giải quyết yêu cầu của người dân.

Về việc thu lệ phí xác nhận, chỉ có tỉnh Yên Bái (trước năm 2005) có thu lệ phí 2000 đồng/lần, nhưng hiện nay đã bãi bỏ.

Thực tế nêu trên cho thấy việc xác nhận thành phần dân tộc hiện nay đang diễn ra phức tạp ở các địa phương và cả Trung ương. Sự phức tạp này đã thể hiện ngay trong các quy định về giấy tờ, thủ tục, các căn cứ và cơ quan quản lí xác nhận thành phần dân tộc dẫn đến việc xác nhận thiếu sự thống nhất, gây khó khăn cho công tác quản lí hành chính và cho đồng bào thụ hưởng chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước. Những bất cập nêu trên đặt ra yêu cầu cần phải rà soát, kiểm tra, rút kinh nghiệm trong việc xác nhận thành phần dân tộc. Qua kiểm tra, các căn cứ để các Ban Dân tộc tiến hành xác nhận thành phần dân tộc, chủ yếu dựa vào 3 loại giấy tờ pháp lý là giấy khai sinh, hộ khẩu và chứng minh nhân dân. Ba loại giấy tờ này đều là những căn cứ giao dịch dân sự theo quy định hiện hành của Nhà nước, nó gắn liền với vận mệnh mỗi người. Cả ba loại giấy tờ kể trên đã xác định chính xác và cụ thể thành phần dân tộc của mỗi cá nhân. Vì vậy, căn cứ vào ba loại giấy tờ trên hoặc đơn giản hơn chỉ cần một trong ba loại là có căn cứ để công nhận thành phần dân tộc của mỗi cá nhân, vì vậy không cần thiết phải có xác nhận thành phần dân tộc do Ban Dân tộc tỉnh hoặc Uỷ ban nhân dân huyện xác nhận, bởi vì hai cơ quan này cũng chủ yếu dựa vào 3 loại giấy tờ kể trên để xác nhận thành phần dân tộc, vì vậy các cơ quan đơn vị khi thực thi chính sách dân tộc không nên “bắt” người thụ hưởng chính sách phải có xác nhận thành phần dân tộc nữa. Nếu “bỏ được” việc này thì đồng bào “ưng cái bụng” lắm. Thực tế hiện nay, có một số bộ, ngành quy định xác nhận thành phần dân tộc cũng rất khác nhau. Ví dụ như: Bộ Công an, trong công tác tuyển sinh quy định đối tượng là người dân tộc thiểu số phải có giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân từ cấp huyện trở lên. Còn đối với một số trường đại học, cao đẳng, trong giấy báo nhập trường đều quy định đối tượng ưu tiên phải có giấy xác nhận diện ưu tiên (cụ thể là xác nhận dân tộc, vùng, miền). Tình trạng tương tự còn xảy ra ở một số bộ, ngành khác. Sự không cần thiết đó đã ít nhiều gây ảnh hưởng không tốt đến thực hiện và kiểm tra thực hiện chính sách. Theo báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh Đăk Nông, trong 6 tháng đầu năm 2006 đã cấp trên 3000 giấy chứng nhận thành phần dân tộc cho các đối tượng thụ hưởng chính sách trong tỉnh. Tình trạng “chồng chéo”, phiền hà trong việc xác nhận thành phần dân tộc đã rõ ràng, nhưng về quản lí hành chính cho đến thời điểm này chưa có một cơ quan chuyên trách nào đảm nhận vấn đề này. Việc Ban Dân tộc các tỉnh xác nhận thành phần dân tộc như đã làm cũng chỉ là đáp ứng yêu cầu nguyện vọng thực tế của đồng bào các dân tộc thiểu số. Còn trình tự thủ tục xác nhận thành phần dân tộc cũng rất khác nhau, tất thảy đều thể hiện tinh thần phục vụ đồng bào, nhưng chưa đúng với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, nhằm giảm bớt khó khăn cho dân.

Chính sách ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số đã thể hiện tính ưu việt của Đảng và Nhà nước. Những bất cập nêu trên đã chứng tỏ chính sách dân tộc đã đi vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc, song còn nhiều thủ tục phiền hà đối với người dân, đặc biệt lại là đồng bào dân tộc thiểu số. Trước thực trạng này, Uỷ ban Dân tộc đã nêu kiến nghị và được các bộ, ngành thống nhất trình Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản qui định việc xác nhận thành phần dân tộc trong phạm vi cả nước và giao cho một cơ quan thẩm quyền đảm nhiệm việc này. Đây là việc làm cần thiết không chỉ giảm bớt phiền hà cho đồng bào dân tộc thiểu số mà còn thể hiện sự quản lí thống nhất về việc thực hiện chính sách dân tộc trong phạm vi cả nước.

Lê Vui

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách: 32
Thành viên: 0
Tổng số: 32
Số người truy cập: 49,685,052


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs