| Ê-Đê là một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Số dân khoảng trên 307 ngàn người. Đồng bào sống tập trung chủ yếu ở Đắc Lắc. Ngoài ra còn ở một vài tỉnh lân cận như phía Nam tỉnh Gia Lai, phía Tây Khánh Hoà, Phú Yên. Tiếng nói Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo. Người Ê Đê có óc thẩm mỹ cao, được thể hiện qua hàng dệt thổ cẩm trang trí nhà cửa, sắc phục. Phụ nữ Ê Đê mặc áo, váy chàm có thêu những hoạ tiết sặc sỡ. áo thường trùm xuống mông cho ra ngoài váy. Cổ áo, vai áo xuống cánh tay, gấu áo được thêu những đường viền, trang trí bằng những dải hoa văn sáng màu đỏ, vàng và trắng, là những màu sắc gần gũi với màu hoa của núi rừng. Váy của phụ nữ Ê Đê là váy mở quấn quanh thân mình. Trên nền chàm mềm mại được thêu những đường chỉ đỏ sọc ngang ở trên, giữa và gấu dưới . Có loại váy thường mặc khi lên nương rẫy, có váy mặc ở nhà và những váy được trang trí công phu, nhiều màu sắc sặc sỡ dành cho những ngày hội ngày lễ, tết. Ngày nay thiếu nữ Ê Đê thường mặc váy kín. Phụ nữ Ê Đê cũng như phụ nữ nhiều dân tộc khác, họ chú trọng nhiều đến trang sức, chuộng các đồ bằng bạc hay đồng làm vòng đeo cổ, đeo tay. Người đàn ông Ê Đê thường quấn khăn nhiều vòng trên đầu, đóng khố. áo người đàn ông dài trùm mông. Trước ngực, hai cánh tay áo được trang trí bằng những đường vuông vải màu đỏ hoặc trắng ở trước ngực khiến cho chiếc áo trông vừa mạnh mẽ, lại đẹp phóng khoáng đúng với phong cách người Ê Đê. Những nhà giàu có, chức sắc trong buôn, áo thường được thêu dải hoa văn ở dọc hai bên nách, gấu áo phía sau có đính cườm, được gọi là áo ktêh. Khố cũng có nhiều loại được phân biệt bằng những hoa văn thêu trên khố và độ ngắn dài. Bong và băh là khố thường, dùng khi đi làm. Ktêh, piêk, drêch, drai là loại khố đẹp, thường dùng trong lễ hội.
Vào các buôn của người Ê Đê sinh sống, ấn tượng đập ngay vào mắt ta là những ngôi nhà dài. Có những nhà dài tới cả trăm mét. Đây cũng là một nét riêng đặc sắc, dễ phân biệt cộng đồng cư dân Ê Đê với các dân tộc khác. Nhìn chiều dài những nhà sàn dài là nhận biết sự đông đúc cháu con, cũng như sự giàu hay nghèo của chủ nhân. Phần chính của nhà gọi là gah dùng để tiếp khách, sum vầy gia tộc. Phần còn lại gọi là ôk, nơi ngủ của các cặp vợ chồng già trẻ. Từ cầu thang đi thẳng vào là một hành lang chạy suốt từ đầu nhà đến cuối nhà, qua gah rồi đến ôk. Bếp núc ở cuối nhà. Sân sàn ở phía cửa chính gọi là sân khách. Nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng rãi, phong quang.
Gia đình người Ê Đê, theo chế độ mẫu hệ, chủ nhà là phụ nữ, con cái mang họ mẹ. Khi lấy vợ, người chồng về nhà ở. Con trai không được hưởng thừa kế. Ngày nay tính chất mẫu hệ không còn rõ nét, vai trò của người đàn ông trong gia đình cũng như trong xã hội ngày càng được khẳng định. Tín ngưỡng của người Ê Đê là tín ngưỡng đa thần nên thực hiện nhiều kiêng cữ và tổ chức nhiều lễ cúng như lễ cúng bến nước, lễ chọc tỉa, lễ cúng lúa mới, lễ thổi tai cho trẻ mới sinh… với niềm mong ước mùa màng bội thu, con người khoẻ mạnh, tránh được rủi ro, hoạn nạn.
Khi xuân về nhiều lễ hội của người ê đê được tổ chức tưng bừng. Do có bộ chữ viết riêng nên vốn văn hoá dân tộc vừa được tồn giữ qua truyền miệng và qua chữ viết, hết sức phong phú. Đó là những ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, đặc biệt là những sử thi nổi tiếng Đăm San, Khan đăm Ktêh Mlan… mà người Ê Đê gọi là khan. Trong lễ hội của người Tây Nguyên không thể thiếu tiếng cồng chiêng, tiếng trống to, trống nhỏ. Đinh Năm là loại nhạc cụ phổ biến của dân tộc. Cùng với đàn klongput, đàn t’rưng, sáo… tạo nên sự phong phú, đa thanh đa sắc trong lễ hội, trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Đàn đá là nhạc cụ cổ nhất. Mấy thập kỷ qua ngành khảo cổ đã khai quật, phục hiện được khá nhiều đàn đá ở Tây Nguyên. Ngày nay đàn đá được hoà nhập cùng bộ nhạc gõ, tham gia vào những lễ hội lớn. Trong nhiều Festival văn hoá được tổ chức ở Tây Nguyên, ở Huế hay trong chương trình giới thiệu văn hoá Việt ở Nha Trang, đàn đá rất được du khách, đặc biệt là những người nghiên cứu văn hoá ở một số nước chú ý. Càng đi sâu vào các lễ hội của dân tộc càng thấy rõ tính văn hoá lễ hội quyện vào trong cuộc sống hàng ngày: Văn hoá cồng chiêng, văn hoá sử thi, văn hoá gia tộc, văn hoá lễ hội, sinh hoạt cộng đồng. Trong dịp tết cổ truyền Đinh Hợi vừa qua, Bộ Văn hoá Thông tin đã có chủ trương phục hồi 9 lễ hội tiêu biểu của một số dân tộc. Bên cạnh lễ hội Khai Mạ Mường Bi của người Mường, lễ hội Vào mùa của người Cao Lan, lễ hội Mừng Lúa mới của người Chu Ru, v.v. là lễ hội Cúng Bến nước của dân tộc Ê Đê.
Cùng với nền văn hoá truyền thống phong phú lâu đời, người Ê Đê cũng có những đóng góp không nhỏ vào trang sử vàng chói lọi chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Qua hai cuộc kháng chiến nhiều người con yêu quý của dân tộc Ê Đê đã hiến dâng tuổi trẻ hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng đi đến ngày toàn thắng.
Hiền Chi |