Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Điểm báo
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất
 06/04/2007
Dân tộc Ê-Đê


Già làng Ê - Đê (Ảnh: PV)

Ê-Đê là một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Số dân khoảng trên 307 ngàn người. Đồng bào sống tập trung chủ yếu ở Đắc Lắc. Ngoài ra còn ở một vài tỉnh lân cận như phía Nam tỉnh Gia Lai, phía Tây Khánh Hoà, Phú Yên. Tiếng nói Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo.

Người Ê Đê có óc thẩm mỹ cao, được thể hiện qua hàng dệt thổ cẩm trang trí nhà cửa, sắc phục. Phụ nữ Ê Đê mặc áo, váy chàm có thêu những hoạ tiết sặc sỡ. áo thường trùm xuống mông cho ra ngoài váy. Cổ áo, vai áo xuống cánh tay, gấu áo được thêu những đường viền, trang trí bằng những dải hoa văn sáng màu đỏ, vàng và trắng, là những màu sắc gần gũi với màu hoa của núi rừng. Váy của phụ nữ Ê Đê là váy mở quấn quanh thân mình. Trên nền chàm mềm mại được thêu những đường chỉ đỏ sọc ngang ở trên, giữa và gấu dưới . Có loại váy thường mặc khi lên nương rẫy, có váy mặc ở nhà và những váy được trang trí công phu, nhiều màu sắc sặc sỡ dành cho những ngày hội ngày lễ, tết. Ngày nay thiếu nữ Ê Đê thường mặc váy kín. Phụ nữ Ê Đê cũng như phụ nữ nhiều dân tộc khác, họ chú trọng nhiều đến trang sức, chuộng các đồ bằng bạc hay đồng làm vòng đeo cổ, đeo tay. Người đàn ông Ê Đê thường quấn khăn nhiều vòng trên đầu, đóng khố. áo người đàn ông dài trùm mông. Trước ngực, hai cánh tay áo được trang trí bằng những đường vuông vải màu đỏ hoặc trắng ở trước ngực khiến cho chiếc áo trông vừa mạnh mẽ, lại đẹp phóng khoáng đúng với phong cách người Ê Đê. Những nhà giàu có, chức sắc trong buôn, áo thường được thêu dải hoa văn ở dọc hai bên nách, gấu áo phía sau có đính cườm, được gọi là áo ktêh. Khố cũng có nhiều loại được phân biệt bằng những hoa văn thêu trên khố và độ ngắn dài. Bong và băh là khố thường, dùng khi đi làm. Ktêh, piêk, drêch, drai là loại khố đẹp, thường dùng trong lễ hội.

Vào các buôn của người Ê Đê sinh sống, ấn tượng đập ngay vào mắt ta là những ngôi nhà dài. Có những nhà dài tới cả trăm mét. Đây cũng là một nét riêng đặc sắc, dễ phân biệt cộng đồng cư dân Ê Đê với các dân tộc khác. Nhìn chiều dài những nhà sàn dài là nhận biết sự đông đúc cháu con, cũng như sự giàu hay nghèo của chủ nhân. Phần chính của nhà gọi là gah dùng để tiếp khách, sum vầy gia tộc. Phần còn lại gọi là ôk, nơi ngủ của các cặp vợ chồng già trẻ. Từ cầu thang đi thẳng vào là một hành lang chạy suốt từ đầu nhà đến cuối nhà, qua gah rồi đến ôk. Bếp núc ở cuối nhà. Sân sàn ở phía cửa chính gọi là sân khách. Nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng rãi, phong quang.

Gia đình người Ê Đê, theo chế độ mẫu hệ, chủ nhà là phụ nữ, con cái mang họ mẹ. Khi lấy vợ, người chồng về nhà ở. Con trai không được hưởng thừa kế. Ngày nay tính chất mẫu hệ không còn rõ nét, vai trò của người đàn ông trong gia đình cũng như trong xã hội ngày càng được khẳng định. Tín ngưỡng của người Ê Đê là tín ngưỡng đa thần nên thực hiện nhiều kiêng cữ và tổ chức nhiều lễ cúng như lễ cúng bến nước, lễ chọc tỉa, lễ cúng lúa mới, lễ thổi tai cho trẻ mới sinh… với niềm mong ước mùa màng bội thu, con người khoẻ mạnh, tránh được rủi ro, hoạn nạn.

Khi xuân về nhiều lễ hội của người ê đê được tổ chức tưng bừng. Do có bộ chữ viết riêng nên vốn văn hoá dân tộc vừa được tồn giữ qua truyền miệng và qua chữ viết, hết sức phong phú. Đó là những ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, đặc biệt là những sử thi nổi tiếng Đăm San, Khan đăm Ktêh Mlan… mà người Ê Đê gọi là khan. Trong lễ hội của người Tây Nguyên không thể thiếu tiếng cồng chiêng, tiếng trống to, trống nhỏ. Đinh Năm là loại nhạc cụ phổ biến của dân tộc. Cùng với đàn klongput, đàn t’rưng, sáo… tạo nên sự phong phú, đa thanh đa sắc trong lễ hội, trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Đàn đá là nhạc cụ cổ nhất. Mấy thập kỷ qua ngành khảo cổ đã khai quật, phục hiện được khá nhiều đàn đá ở Tây Nguyên. Ngày nay đàn đá được hoà nhập cùng bộ nhạc gõ, tham gia vào những lễ hội lớn. Trong nhiều Festival văn hoá được tổ chức ở Tây Nguyên, ở Huế hay trong chương trình giới thiệu văn hoá Việt ở Nha Trang, đàn đá rất được du khách, đặc biệt là những người nghiên cứu văn hoá ở một số nước chú ý. Càng đi sâu vào các lễ hội của dân tộc càng thấy rõ tính văn hoá lễ hội quyện vào trong cuộc sống hàng ngày: Văn hoá cồng chiêng, văn hoá sử thi, văn hoá gia tộc, văn hoá lễ hội, sinh hoạt cộng đồng. Trong dịp tết cổ truyền Đinh Hợi vừa qua, Bộ Văn hoá Thông tin đã có chủ trương phục hồi 9 lễ hội tiêu biểu của một số dân tộc. Bên cạnh lễ hội Khai Mạ Mường Bi của người Mường, lễ hội Vào mùa của người Cao Lan, lễ hội Mừng Lúa mới của người Chu Ru, v.v. là lễ hội Cúng Bến nước của dân tộc Ê Đê.

Cùng với nền văn hoá truyền thống phong phú lâu đời, người Ê Đê cũng có những đóng góp không nhỏ vào trang sử vàng chói lọi chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Qua hai cuộc kháng chiến nhiều người con yêu quý của dân tộc Ê Đê đã hiến dâng tuổi trẻ hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng đi đến ngày toàn thắng.

                                                                                                                                Hiền Chi

[ Quay lại ]

 

 

TÌM NHANH

TIÊU ĐIỂM

+ Quyết định số 05/2008/QĐ-UBDT ngày 24/11/2008 về việc Ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban Dân tộc

+ Quyết định số 01/2008/QĐ-UBDT ngày 11/01/2008 của Ủy ban Dân tộc v/v phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn thuộc xã khu vực II vào diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II

+ Thông tư số 06/2007/TT-UBDT ngày 20/9/2007 của Ủy ban Dân tộc hướng dẫn thực hiện mức Hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý, để nâng cao nhận thức pháp luật theo Quyết định 112/2007/QĐ-TTg

+ Quyết định số 05/2007/QĐ-UBDT ngày 06/9/2007 của Uỷ ban Dân tộc về việc công nhận 3 khu vực vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển

+ Quyết định số 01/2007/QĐ-UBDT ngày 31/5/2007 về việc công nhận các xã, huyện là miền núi, vùng cao do điều chỉnh địa giới hành chính

+ Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/03/2007 về ban hành danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn

+ Quyết định số 291/2006/QĐ-UBDT ngày 08/11/2006 của Ủy ban Dân tộc ban hành quy định chế độ báo cáo của Ủy ban Dân tộc

+ Quyết định số 1277/QĐ-TTg ngày 07/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án: "Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc giai đoạn 2006 - 2010"

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Tiếng dân tộc thiểu số sẽ là môn học

 
Đô thị ven biển đối mặt với tác động của biến đổi khí hậu

 
Bảo tồn âm nhạc dân gian dân tộc thiểu số trong xã hội hiện đại

 
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ

 
Gặp mặt các thương binh, thân nhân liệt sỹ nhân Ngày Thương binh Liệt sỹ tại cơ quan Ủy ban Dân tộc

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách: 155
Thành viên: 0
Tổng số: 155
Số người truy cập: 23,688,781


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Người chịu trách nhiệm chính : Cao Cự Tú, Giám đốc Trung tâm Thông Tin - Uỷ ban Dân tộc.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.38431876 / 080 42572.
Xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.1 secs