Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ trong tình hình mới
1 giờ trước | Lượt xem: 39 In bài viết |Kế hoạch nhằm cụ thể hóa các quan điểm, tổ chức thực hiện đầy đủ, đồng bộ, nhất quán những nhiệm vụ nêu tại Kết luận số 51-KL/TW; xác định rõ nhiệm vụ, sản phẩm và trách nhiệm của các bộ, cơ quan, địa phương trong quá trình triển khai.
Qua đó, từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa sở hữu trí tuệ trở thành yếu tố cốt lõi để tự chủ chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại quốc tế, góp phần bảo vệ an ninh và nâng cao vị thế quốc gia trong tình hình mới.
Kế hoạch yêu cầu việc triển khai phải bám sát quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị; bảo đảm đồng bộ, liên thông với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về sở hữu trí tuệ.
Việc xác định nhiệm vụ cho các bộ, cơ quan liên quan, địa phương phải bảo đảm phù hợp với chức năng quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật, đồng thời không chồng chéo với nội dung các chương trình, chiến lược, đề án đang được triển khai. Quá trình thực hiện phải bảo đảm sự đồng bộ, liên thông, gắn với việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác sở hữu trí tuệ.
Có lộ trình, kế hoạch cụ thể đối với việc thực hiện các nhiệm vụ của các bộ, cơ quan liên quan, địa phương; tăng cường công tác đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện
Kế hoạch xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, bao gồm:
Thứ nhất, quán triệt, nâng cao nhận thức về vai trò chiến lược của sở hữu trí tuệ, xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo. Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm tổ chức quán triệt sâu rộng; đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phổ biến các mô hình, điển hình và kết quả nổi bật trong hoạt động sáng tạo, bảo hộ, khai thác, thương mại hóa tài sản trí tuệ; đẩy mạnh thông tin đấu tranh, phản ánh, lên án các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; áp dụng đổi mới mạnh mẽ nội dung, đa dạng hình thức truyền thông, lan tỏa văn hóa sở hữu trí tuệ và ý thức tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ với kết quả sáng tạo trong toàn xã hội; có chính sách vinh danh và khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích nổi bật trong hoạt động tạo ra và khai thác quyền sở hữu trí tuệ.
Nội dung sở hữu trí tuệ được chú trọng lồng ghép trong các quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời nghiên cứu đưa vào chương trình giáo dục phù hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ theo hướng hiện đại, đồng bộ. Trọng tâm là rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản có liên quan, kịp thời giải quyết những vấn đề mới phát sinh trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Các quy định về bảo hộ và xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tài sản số, công nghệ chuỗi khối, công nghệ sinh học và công nghệ bán dẫn sẽ được tập trung nghiên cứu, hoàn thiện. Việc bảo hộ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phải hài hòa với yêu cầu phổ cập tri thức, phát triển khoa học, công nghệ và lợi ích chung của xã hội.
Thứ ba, thúc đẩy phát triển đồng bộ hệ sinh thái sở hữu trí tuệ; chú trọng phát triển thị trường quyền sở hữu trí tuệ và nâng cao năng lực sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp. Kế hoạch đặt ra yêu cầu phát triển các tổ chức trung gian chuyên nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp quản lý, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ; đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu; xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ giao dịch và định giá quyền sở hữu trí tuệ.
Xây dựng và triển khai chương trình nâng cao năng lực sở hữu trí tuệ trong hệ thống các cơ sở giáo dục đại học; lồng ghép nội dung sở hữu trí tuệ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp vào chương trình đào tạo chính thức cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh; tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu định kỳ nhằm chuyển đổi căn bản nhận thức của đội ngũ nhà khoa học, giảng viên từ tư duy “nghiên cứu để công bố bài báo khoa học” sang tư duy “nghiên cứu gắn liền với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thương mại hóa sản phẩm”
Thứ tư, tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt trên môi trường số. Các cơ quan liên quan chủ động nâng cấp hạ tầng số, ứng dụng công nghệ để tự động phát hiện, cảnh báo và truy vết hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng và thương mại điện tử;
Hoàn thiện cơ chế phối hợp với nhà cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ trung gian nhằm kịp thời ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm.
Tăng cường các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức cá nhân và các chủ thể quyền nâng cao năng lực bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ; phát triển các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn, cung cấp thông tin, cảnh báo, giám sát và hỗ trợ xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt trên môi trường số.
Thứ năm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. Trong đó, tập trung chuyển đổi số hoạt động bảo hộ; số hóa dữ liệu; đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong xác lập, tra cứu thông tin; xây dựng cơ sở dữ liệu hạ tầng công nghệ thông tin, các nền tảng số phục vụ nghiệp vụ sở hữu trí tuệ, cơ sở dữ liệu chuyên ngành sở hữu trí tuệ, công cụ, trang thiết bị cho công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; bảo đảm hệ thống đăng ký, xác lập quyền sở hữu trí tuệ minh bạch, dễ tiếp cận và đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Phát triển đội ngũ thẩm định viên, chuyên gia và nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hợp tác quốc tế.
Thứ sáu, bảo đảm an ninh quốc gia về công nghệ, dữ liệu và bí mật kinh doanh; tăng cường kiểm soát, phòng ngừa việc chuyển giao công nghệ trái phép ra nước ngoài; chủ động phát hiện, đấu tranh, xử lý hành vi đánh cắp bí mật kinh doanh hoặc tấn công mạng nhằm chiếm đoạt dữ liệu sở hữu trí tuệ.
Thứ bảy, đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, có chọn lọc về sở hữu trí tuệ; chủ động tham gia xây dựng, hoàn thiện các chuẩn mực quốc tế, thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân Việt Nam.
Kèm theo Kế hoạch là danh mục 27 nhiệm vụ ưu tiên, xác định cụ thể nội dung công việc, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, cấp trình, sản phẩm và thời hạn hoàn thành. Các nhiệm vụ được triển khai thường xuyên hoặc theo lộ trình từ năm 2026 đến năm 2028.
Hương Huyền

