Phê duyệt Đề án xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật
1 giờ trước | Lượt xem: 43 In bài viết |Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 1949/QĐ-TTg ngày 8/10/2026 phê duyệt Đề án xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật. Đề án hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia thống nhất, đồng bộ, hiện đại, phục vụ công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, quản lý nhà nước và đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng thông tin pháp luật của người dân, doanh nghiệp.
Theo Quyết định, Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật là hạ tầng dữ liệu quan trọng của quốc gia, làm cơ sở để xây dựng nền quản trị pháp luật thông minh, góp phần hiện thực hóa chủ trương đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển trong kỷ nguyên mới.
Đề án xác định việc xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật phải bảo đảm kết nối, tích hợp, chia sẻ, sử dụng các nguồn dữ liệu pháp luật hiện có; từng bước hoàn thiện hệ thống dữ liệu thống nhất, phục vụ quản lý, theo dõi toàn bộ vòng đời của văn bản quy phạm pháp luật từ khi xây dựng đến tổ chức thi hành.
Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật được xây dựng có trọng tâm, trọng điểm, áp dụng các công nghệ hiện đại, hỗ trợ khai phá dữ liệu tiên tiến, ưu tiên ứng dụng trị tuệ nhân tạo theo nguyên tắc “dữ liệu là nền tảng – AI là công cụ hỗ trợ - con người chịu trách nhiệm cuối cùng”.
Việc xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật được thực hiện trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia; không trùng lặp với các nền tảng số dùng chung của quốc gia, kế thừa tối đa các nguồn lực hiện có; tuân thủ quy định pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu, an ninh mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ bí mật nhà nước.
Đồng thời, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung
Xây dựng hệ thống dữ liệu pháp luật thống nhất, hướng tới quản trị pháp luật thông minh
Mục tiêu tổng quát của Đề án là xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật trở thành hạ tầng dữ liệu pháp luật quốc gia nhằm phục vụ tích hợp, chuẩn hóa, liên kết, phân tích và cung cấp dịch vụ dữ liệu pháp luật dùng chung, bảo đảm tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Thông qua đó, Đề án hướng tới ứng dụng công nghệ hiện đại, làm nền tảng để xây dựng, phát triển ứng dụng công nghệ số cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; xây dựng nền quản trị pháp luật thông minh; thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, góp phần đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Đề án xác định các mục tiêu cụ thể theo hai giai đoạn.
Đến năm 2027, hoàn thành việc rà soát, tái cấu trúc Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, bảo đảm 100% dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật được biểu diễn dưới định dạng tiêu chuẩn hỗ trợ máy đọc.
Cùng với đó, số hóa 100% hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các văn bản được ban hành từ ngày 30/4/2025, thời điểm Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành.
Đến năm 2028 - 2030, hoàn thành triển khai Kho dữ liệu pháp luật tập trung, bảo đảm tích hợp 100% các nguồn dữ liệu thành phần về pháp luật từ các bộ, cơ quan, địa phương.
Đồng thời, hình thành Đồ thị tri thức pháp luật quốc gia hỗ trợ các nhu cầu tìm kiếm, phân tích, khai thác thông minh và ứng dụng công nghệ số phục vụ công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật.
Đề án cũng đặt mục tiêu phát triển các nền tảng, công cụ phục vụ tra cứu, khai thác, phân tích và sử dụng dữ liệu pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức tiếp cận, sử dụng thông tin pháp luật; góp phần giám sát, đánh giá, chi phí tiếp cận thông tin, nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả trong xây dựng, tổ chức thi hành và tuân thủ pháp luật.
Về phạm vi dữ liệu, Đề án tập trung hình thành hệ sinh thái dữ liệu về pháp luật phục vụ quản lý, theo dõi và khai thác thông tin xuyên suốt vòng đời của văn bản quy phạm pháp luật, từ xây dựng đến tổ chức thi hành.
Trong đó, ưu tiên tích hợp, hoàn thiện các nhóm dữ liệu gốc từ các bộ, cơ quan, địa phương lên hệ thống; đồng thời tiếp tục nghiên cứu, mở rộng phạm vi dữ liệu pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu khai thác, phân tích dữ liệu, phát triển các ứng dụng trí tuệ nhân tạo, góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Triển khai 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, Đề án xác định 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu pháp luật. Trong đó, tập trung ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật; ban hành quy định về kiến trúc, chuẩn dữ liệu pháp luật, nguyên tắc, tiêu chí kỹ thuật, kiểm tra dữ liệu và chuẩn dữ liệu pháp luật; ban hành quy định về dữ liệu pháp luật mở, hình thành thị trường dữ liệu pháp luật.
Thứ hai, phát triển hạ tầng, nền tảng công nghệ và quản trị, vận hành Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật. Đề án xác định xây dựng hạ tầng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật đặt tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, ứng dụng các công nghệ hiện đại, bảo đảm lưu trữ, xử lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu pháp luật trong phạm vi toàn quốc; ứng dụng trung tâm nhận tạo và các công nghệ số phục vụ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ pháp lý số.
Đồng thời, phát triển nền tảng công nghệ Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật theo định hướng “AI First” (ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo), xây dựng hạ tầng dữ liệu và các nền tảng dùng chung phục vụ thu thập, lưu trữ, chuẩn hóa, phân tích, khai thác, chia sẻ và phổ biến thông tin pháp luật.
Thứ ba, số hóa, tạo lập, tích hợp và chuẩn hóa dữ liệu cho Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật. Nhiệm vụ này tập trung rà soát, đánh giá, số hóa, làm sạch, chuẩn hóa, nâng cấp các cơ sở dữ liệu đã tích hợp, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật theo quy định.
Đề án yêu cầu thực hiện số hóa hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, trong đó ưu tiên số hóa hồ sơ từ ngày 30/4/2025; đồng thời thu thập, tích hợp các nguồn dữ liệu pháp luật theo phương thức phù hợp, ưu tiên kết nối và chia sẻ dữ liệu tự động thông qua các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu có liên quan.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng, duy trì Đồ thị tri thức pháp luật, làm nền tảng tri thức phục vụ phân tích dữ liệu pháp luật, hỗ trợ cung cấp các dịch vụ tra cứu ngữ nghĩa và phục vụ phát triển các ứng dụng AI trong lĩnh vực pháp luật.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực có năng lực, kiến thức, kỹ năng về chuyển đổi số, quản trị và khai thác dữ liệu pháp luật. Đề án chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức về phân tích, khai phá dữ liệu; chuyển giao các khoa học dữ liệu, an ninh mạng và an ninh dữ liệu.
Đồng thời, khuyến khích cơ chế hợp tác giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp công nghệ và cơ sở đào tạo, nghiên cứu nhằm phát triển đội ngũ chuyên gia dữ liệu pháp luật chất lượng cao.
Thứ năm, khai thác dữ liệu pháp luật thúc đẩy đổi mới, sáng tạo dịch vụ số. Đề án đặt ra nhiệm vụ phát triển các giải pháp, dịch vụ dữ liệu pháp luật nhằm bảo đảm thông tin pháp luật, nguồn dữ liệu lớn phục vụ Cổng Pháp luật quốc gia và các hệ thống thông tin khác; triển khai mở dữ liệu trong phạm vi phù hợp với quy định; hỗ trợ các cơ quan, tổ chức, người dân và doanh nghiệp tiếp cận, khai thác, sử dụng thông tin pháp luật.
Bên cạnh đó, nghiên cứu, rà soát cơ sở pháp lý, đánh giá tác động, đề xuất cơ chế thu phí khai thác Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật đối với tổ chức, doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, dịch vụ thương mại nhằm bảo đảm kinh phí duy trì, vận hành, phát triển.
Thứ sáu, bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu. Triển khai các giải pháp bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu cho Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật theo quy định pháp luật; thực hiện bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin theo cấp độ; thường xuyên đánh giá, rà soát, giám sát và nâng cấp hệ thống nhằm bảo đảm tính an toàn, tin cậy và sẵn sàng của dữ liệu và hệ thống.
Thứ bảy, kiểm soát rủi ro, ngăn chặn nguy cơ bị điều hướng, tác động chính sách. Đề án yêu cầu thực hiện các giải pháp kiểm soát rủi ro trong quá trình xây dựng, phát triển, khai thác dữ liệu pháp luật để ngăn chặn nguy cơ bị điều hướng, tác động chính sách.
Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị; tăng cường nhận thức, đạo đức, chính trị, tư tưởng cho đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong việc xây dựng, phát triển, khai thác dữ liệu pháp luật; thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên và định kỳ việc khai thác dữ liệu pháp luật phục vụ quá trình xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Thứ tám, hợp tác quốc tế. Tăng cường hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp công nghệ nước ngoài để chia sẻ, học tập kinh nghiệm và tiếp nhận các mô hình, giải pháp tiên tiến trong việc xây dựng, phát triển Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật.
Bộ Tư pháp chủ trì triển khai Đề án, các bộ, ngành và địa phương phối hợp thực hiện
Về tổ chức thực hiện, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng, ban hành Kế hoạch triển khai Đề án; hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các bộ, cơ quan, địa phương triển khai thực hiện.
Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Công an và Bộ Khoa học và Công nghệ thống nhất về kiến trúc tổng thể, mô hình quản trị, tiêu chuẩn dữ liệu, cơ chế xác thực, phân quyền trong xây dựng, vận hành hệ thống, bảo đảm phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia.
Bộ Công an bảo đảm bố trí, cung cấp hạ tầng và dịch vụ tại Trung tâm dữ liệu quốc gia phù hợp với yêu cầu của Đề án; đồng thời thực hiện kiểm tra, đánh giá an ninh mạng đối với các hạ tầng số, nền tảng số, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu thuộc Đề án.
Bộ Khoa học và Công nghệ tổng hợp, đề xuất dự toán kinh phí thực hiện Đề án theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí thực hiện Đề án theo quy định của pháp luật.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm xây dựng, quản lý và cập nhật các cơ sở dữ liệu của bộ, cơ quan mình theo danh mục các cơ sở dữ liệu cần số hóa, chuẩn hóa, tích hợp; bảo đảm thực hiện chia sẻ dữ liệu theo quy định.
Đồng thời, chủ động bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nhằm nâng cao năng lực quản lý, khai thác dữ liệu pháp luật; tổ chức thực hiện kế hoạch triển khai Đề án và định kỳ hằng năm báo cáo tình hình, kết quả thực hiện.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm xây dựng, quản lý và cập nhật các cơ sở dữ liệu pháp luật của địa phương, bảo đảm tính đầy đủ, chính xác, kịp thời của thông tin; tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao và báo cáo tình hình, kết quả thực hiện theo quy định.
Đề án được thực hiện bằng nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật; đồng thời khuyến khích huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thông qua các hình thức phù hợp.
Quyết định số 1949/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Minh Lan

