Từ chiến lược chuyển đổi số của Bộ Dân tộc và Tôn giáo đến đổi mới dạy học tại các trường chuyên biệt
59 phút trước | Lượt xem: 29 In bài viết |Chuyển đổi số tại Bộ Dân tộc và Tôn giáo đang được triển khai theo hướng lấy dữ liệu làm nền tảng, phát triển năng lực số của đội ngũ và đưa công nghệ vào giải quyết những bài toán cụ thể trong quản lý, chuyên môn. Tại các trường chuyên biệt trực thuộc Bộ, yêu cầu này đang từng bước được cụ thể hóa vào quản trị nhà trường, xây dựng học liệu, kiểm tra, đánh giá và đổi mới phương pháp dạy học.
Tháng 10/2025, Bộ Dân tộc và Tôn giáo ban hành Chiến lược Chuyển đổi số và Chiến lược dữ liệu, xác định dữ liệu là yếu tố cốt lõi, đồng thời đặt mục tiêu xây dựng cơ quan quản lý số hiện đại, minh bạch, hoạt động hiệu quả. Theo định hướng của Bộ, dữ liệu cần được chuẩn hóa, số hóa, quản lý và khai thác theo nguyên tắc “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung”, phục vụ quản lý, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách.
Đây không chỉ là yêu cầu đối với các cơ quan quản lý nhà nước của Bộ. Quá trình chuyển đổi số đang được mở rộng tới các đơn vị sự nghiệp và các trường chuyên biệt trực thuộc, gắn công nghệ với từng lĩnh vực hoạt động cụ thể.
Một trong những trọng tâm được Bộ quan tâm là phát triển năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trong các chương trình triển khai chuyển đổi số, công chức, viên chức được tiếp cận với công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo; từng bước hình thành tư duy làm việc thích ứng với công nghệ, sử dụng AI hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhưng đồng thời chú trọng yêu cầu về đạo đức, bảo mật và chất lượng thông tin.
Đối với khối trường chuyên biệt, định hướng chuyển đổi số đang được đặt trong một không gian rộng hơn hoạt động hành chính. Tháng 7/2026, chương trình nâng cao năng lực chuyển đổi số của Bộ có sự tham gia của đại diện 5 trường chuyên biệt. Nội dung được đặt ra bao gồm định hướng xây dựng hệ sinh thái phần mềm kết nối quản trị nhà trường, đào tạo, học liệu số, tương tác giữa nhà trường - giáo viên - học sinh - phụ huynh, báo cáo điều hành và hỗ trợ ra quyết định trên môi trường số.
Cách tiếp cận này cho thấy chuyển đổi số trong các cơ sở giáo dục trực thuộc Bộ không chỉ dừng lại ở số hóa văn bản hoặc sử dụng phần mềm quản lý. Trọng tâm sâu hơn là đưa dữ liệu và công nghệ vào chính quá trình dạy - học, kiểm tra, đánh giá, phát triển đội ngũ và quản lý chất lượng.
Chuyển đổi số đi vào hoạt động chuyên môn
Tại Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương Nha Trang, định hướng trên đang được cụ thể hóa trong nhiệm vụ giáo dục năm học 2026 - 2027. Kế hoạch chuyên môn của Nhà trường xác định đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong dạy học, kiểm tra, đánh giá, quản lý kết quả học tập và rèn luyện; từng bước chuẩn hóa, số hóa dữ liệu chuyên môn, hồ sơ dạy học và kết quả học tập; khai thác nền tảng, học liệu số và các công cụ công nghệ phù hợp, đồng thời bảo đảm tính chính xác, bản quyền và an toàn thông tin.
Đáng chú ý, chuyển đổi số được gắn với một trong những khâu có tác động trực tiếp đến chất lượng giáo dục là kiểm tra, đánh giá. Theo kế hoạch, các tổ chuyên môn xây dựng và chuẩn hóa ngân hàng câu hỏi, thực hiện quy trình xây dựng, rà soát, thẩm định, quản lý và khai thác thống nhất; 100% giáo viên tham gia xây dựng, hoàn thiện ngân hàng câu hỏi môn học theo kế hoạch của Nhà trường.
Việc xây dựng ngân hàng câu hỏi theo hướng số hóa tạo điều kiện để dữ liệu chuyên môn được tích lũy, rà soát và sử dụng lâu dài thay vì tồn tại dưới dạng những bộ đề rời rạc. Quan trọng hơn, quá trình này gắn câu hỏi kiểm tra với yêu cầu cần đạt, ma trận và bảng đặc tả, qua đó hỗ trợ đánh giá kiến thức, kỹ năng, phẩm chất và năng lực của học sinh theo yêu cầu của chương trình dự bị đại học.
Trên nền tảng đó, trí tuệ nhân tạo đang được tiếp cận như một công cụ hỗ trợ chuyên môn, thay vì thay thế vai trò của giáo viên. Giáo viên có thể sử dụng AI và kỹ thuật thiết kế câu lệnh để hỗ trợ nghiên cứu, hình thành phương án câu hỏi, kiểm tra cách diễn đạt hoặc phản biện câu hỏi ở nhiều dạng khác nhau như trắc nghiệm nhiều lựa chọn, đúng - sai, trả lời ngắn và tự luận. Việc lựa chọn, điều chỉnh và thẩm định vẫn phải do giáo viên thực hiện trên cơ sở yêu cầu cần đạt, đối tượng học sinh, tính chính xác của kiến thức và mục tiêu đánh giá. Điều này cũng phù hợp với định hướng chung của Bộ khi việc ứng dụng AI được đặt cùng yêu cầu nâng cao năng lực số, bảo mật và sử dụng công nghệ có trách nhiệm.
Cán bộ, giáo viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương Nha Trang tập huấn chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xây dựng ngân hàng đề kiểm tra, đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh theo khung chương trình hệ dự bị đại học
Từ dữ liệu chuyên môn đến nâng cao chất lượng giáo dục
Ở cấp Bộ, dữ liệu được xác định là nền tảng phục vụ quản lý, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách. Đến tháng 8/2026, Bộ tiếp tục yêu cầu các nhiệm vụ chuyển đổi số phải gắn với sản phẩm cụ thể, có thể đo đếm, kiểm tra, đánh giá; dữ liệu không chỉ bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” mà còn phải có khả năng khai thác thực tế.
Ở cấp cơ sở giáo dục, tinh thần này có thể nhìn thấy từ việc chuẩn hóa dữ liệu chuyên môn, ngân hàng câu hỏi, hồ sơ dạy học và kết quả học tập. Khi dữ liệu được tổ chức có hệ thống, giáo viên có thêm căn cứ để nhận diện mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt, phân tích kết quả học tập và điều chỉnh hoạt động dạy học. Nhà trường cũng có cơ sở tốt hơn để quản lý chất lượng và theo dõi sự tiến bộ của học sinh.
Kế hoạch năm học 2026 - 2027 của Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương Nha Trang cũng đặt yêu cầu lấy kết quả học tập và sự tiến bộ của học sinh làm thông tin quan trọng để Nhà trường, tổ chuyên môn và giáo viên phân tích, điều chỉnh hoạt động giáo dục; đồng thời khuyến khích giáo viên thực hiện các nhiệm vụ phát triển chuyên môn liên quan đến chất lượng dạy học, kiểm tra đánh giá, ngân hàng câu hỏi, chuyển đổi số và hỗ trợ học sinh.
Từ định hướng chung của Bộ đến những thay đổi trong hoạt động chuyên môn ở một trường dự bị đại học cho thấy chuyển đổi số chỉ thực sự tạo giá trị khi đi vào từng quy trình công việc và giải quyết được những nhu cầu cụ thể. Với giáo dục, đó là chất lượng bài dạy, chất lượng kiểm tra, khả năng theo dõi sự tiến bộ của người học và năng lực sử dụng công nghệ của đội ngũ giáo viên.
Trong quá trình Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục triển khai các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, việc các trường chuyên biệt từng bước chuẩn hóa dữ liệu, phát triển học liệu số và sử dụng AI có kiểm soát trong hoạt động chuyên môn là một hướng cụ thể để chuyển đổi số đi từ chiến lược, nền tảng tới lớp học và người học. Bộ đang yêu cầu các nhiệm vụ chuyển đổi số phải gắn với đầu ra, thời hạn và trách nhiệm cụ thể; đồng thời thúc đẩy các nền tảng dùng chung, kết nối và chia sẻ dữ liệu trong toàn ngành.
Thành Long


