Thông tin giá cả thị trường tuần từ 16/06/2014 đến 20/06/2014

04:11 PM 17/06/2014 |   Lượt xem: 1838 |   In bài viết | 

TIÊU ĐIỂM

 Nhằm đáp ứng nhu cầu về thông tin của người dân miền núi và bà con dân tộc thiểu số, từ số 01 (ra ngày 03/01/2014), Chuyên đề DTTS&MN (Báo Công Thương) tiếp tục chuyên mục “Thị trường – Giá cả” với sự hợp tác của Cổng Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc (Dantoc online), Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương) và các hiệp hội, ngành hàng... 
 
Thấy gì trong khâu tiêu thụ ở vùng “rốn” vải thiều  
 
Bắc Giang không phải là vùng đất lâu đời về trồng vải thiều. Tuy nhiên, nhiều năm nay, mỗi khi đến mùa thu hoạch quả vải, người ta hay nhắc đến Bắc Giang, đặc biệt là vải Lục Ngạn, vì đây là địa phương mỗi năm cung cấp ra thị trường trên dưới 150.000 tấn quả, chiếm khoảng 75% sản lượng vải thiều của cả nước.
 
Tạo điều kiện tốt nhất để thương nhân nước ngoài đến thu mua tại chỗ

Mặc dù thời tiết năm nay khắc nghiệt, mưa và lạnh kéo dài ảnh hưởng đến đậu quả của các cây ăn quả, trong đó có vải thiều. Nhưng do được sự hỗ trợ kỹ thuật nên năng suất  vải vẫn cao. Đối với thị trường nước ngoài, Trung Quốc vẫn chiếm khoảng 95% tổng sản lượng xuất khẩu. Mặc dù có nhiều luồng dư luận lo ngại tình hình căng thẳng trên biển Đông có thể ảnh hưởng đến việc xuất khẩu vải sang Trung Quốc, tuy nhiên đến nay các hoạt động thu mua vải để xuất khẩu vẫn diễn ra bình thường do UBND tỉnh Bắc Giang sẵn sàng các phương án cần thiết. Ông Bùi Văn Hạnh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang cho biết: “Tỉnh Bắc Giang và UBND huyện Lục Ngạn đã chỉ đạo hệ thống các ngân hàng trên địa bàn cung ứng lượng tiền cần thiết và bảo đảm các dịch vụ ngân hàng phục vụ thương nhân thu mua quả vải xuất khẩu; hệ thống sản xuất và cung cấp nước đá cây phục vụ ướp lạnh vải thiều vận chuyển đi xa. Đặc biệt, tỉnh chỉ đạo chặt chẽ các ngành chức năng việc tổ chức đăng ký tạm trú, tạm vắng một cách thuận lợi nhất cho các thương nhân nước ngoài đến thu mua vải tại địa phương. Mở hàng chục điểm cho các thương nhân Trung Quốc công khai thực hiện thu mua vải trên địa bàn, nhất là ở Lục Ngạn. Hơn thế nữa, trước khi vào vụ thu hoạch vải, UBND tỉnh Bắc Giang chủ động phối hợp với Bộ Công Thương tổ chức một số cuộc họp với các tỉnh cửa khẩu phía Bắc như Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh... cam kết có các phương án đảm bảo an ninh, an toàn nhất, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thương nhân nước ngoài đến thu mua vải tại địa phương, cũng như khâu vận chuyển hàng đến cửa khẩu xuất bán qua biên giới. Đồng thời phối hợp với cơ quan hải quan tạo điều kiện thủ tục xuất khẩu nhanh chóng, thuận lợi nhất cho việc xuất khẩu vải thiều qua biên giới. 

Tuy nhiên để giảm thiểu sự phụ thuộc vào một thị trường, Bắc Giang cũng đã sớm phối hợp với Bộ Công Thương và các bộ, ngành chức năng thực hiện nhiều hoạt động xúc tiến thương mại xuất khẩu vải thiều sang các thị trường mới, bằng việc đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá thương hiệu vải thiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên website, qua nhiều cuộc hội chợ, triển lãm trong ngoài nước. 

Khai thác thị trường “nội địa”

Cùng với việc mở thêm thị trường xuất khẩu, giải pháp “tối ưu” trong thời điểm này là chú trọng khai thác thị trường tiêu thụ nội địa. Kinh nghiệm thị trường cho thấy muốn cạnh tranh tốt để xuất khẩu trước hết phải cạnh tranh tốt trên thị trường nội địa, thị trường xuất khẩu phải dựa vào thị trường nội địa. Muốn làm được điều đó, người trồng vải phải biết lựa chọn, phát triển cây trồng không thể tùy tiện, làm theo thói quen và thiếu quy hoạch, mà cần áp dụng theo các tiêu chuẩn tiên tiến trên thế giới; gia tăng nhiều hơn hàm lượng khoa học công nghệ để tăng chất lượng, độ an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo quản, chế biến. Được biết, để tăng thời gian bảo quản nhằm xuất khẩu quả vải thiều sang các thị trường mới như Nhật Bản, các nước châu Âu, huyện Lục Ngạn đã phối hợp với Viện Nghiên cứu và Phát triển vùng (Bộ và Bộ Khoa học – Công nghệ) nghiên cứu, áp dụng công nghệ CAS vào bảo quản quả vải tươi,  có thể bảo quản được hơn 1 năm với chất lượng tốt. Do đó, đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép triển khai ngay dự án công nghệ bảo quản này tại vùng vải Lục Ngạn trên cơ sở tổng kết rút kinh nghiệm cần nhân rộng ra các vùng vải khác và có thể ứng dụng trong bảo các loại hoa quả khác. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình bảo quản, chế biến và tiêu thụ vải thiều. Để người tiêu dùng trong nước được thưởng thức hương vị vải thiều Bắc Giang, Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) đã liên hệ với các chợ đầu mối ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đồng Nai, Bình Dương... cùng với các thương nhân, các công ty ở chợ đầu mối lớn để hỗ trợ tiêu thụ quả vải. Ngoài ra, Vụ cũng đã bàn với Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam, các siêu thị, hệ thống phân phối hiện đại để hỗ trợ tiêu thụ vải thiều. 

Việc chung tay hợp sức cùng lo khâu tiêu thụ đang mang lại cho Bắc Giang một mùa vải thiều được mùa, nhưng không mất giá... Đây có lẽ là những kinh nghiệm tốt cho các địa phương tham khảo trong việc tiêu thụ nhiều loại nông sản và hoa quả khác.                                                              
 

MUA GÌ

  Quảng Điền (Thừa Thiên - Huế): Giá dưa hấu và lúa tăng nhanh

Bước vào vụ thu hoạch năm nay, giá dưa hấu tại xã Quảng Lợi (Thừa Thiên - Huế) đã đạt 8.500 đồng/kg, gấp đôi năm trước, sản lượng bình quân mỗi héc-ta trên 100 tấn. Tương tự, nông dân 2 xã Quảng Công, Quảng Ngạn cũng đang phấn khởi khi các diện tích dưa hấu được mùa lẫn giá. Ông Lê Hùng (thôn Thành Công) cho biết: Vụ dưa hấu này, gia đình tôi trồng 4 sào, năng suất bình quân 8 tạ/sào. Với giá bán hơn 7.000 đồng/kg, trừ chi phí xong thu lãi trên 20 triệu đồng. Đây là vụ được mùa được giá nhất từ trước đến nay”. Nhiều thương lái trong, ngoài tỉnh đến tận nơi thu mua nên việc tiêu thụ khá nhanh. Không chỉ vậy, niềm vui của nông dân Quảng Điền như được nhân lên khi giá lúa vụ đông – xuân đã tăng trở lại. Chị Phan Thị Sương (xã Quảng Phước) phấn khởi: “Vụ đông – xuân gia đình tui thu hoạch được 4 tấn lúa. Tấn đầu bán giá thấp (chỉ được 6 triệu đồng), nhưng nay mỗi tấn bán được 7,2 triệu đồng”. Tại xã Quảng An, những ngày gần đây giá lúa từ 5.200 đồng/kg lên 6.200 đồng/kg đối với các loại Khang dân, TH5 và 6.000 đồng/kg lên 7.200 đồng/kg đối với các loại giống chất lượng như 4b, Xi21. Tuy nhiên, ngành chức năng đang khuyến cáo bà con đừng vội bán tháo, phải tính toán thời điểm bán thích hợp để đảm bảo an ninh lương thực tại gia đình và địa phương. 
 
Tiền Giang: Các loại trái cây chủ lực đồng loạt giảm giá 

Hiện giá bán các loại trái cây chủ lực tại vườn trên địa bàn tỉnh Tiền Giang đồng loạt giảm bình quân từ 2.000 - 7.000 đồng/kg, tùy loại. Cụ thể, giá bán thanh long giảm mạnh nhất, từ 6.000 - 7.000 đồng/kg so với tháng trước. Hiện thương lái thu mua thanh long ruột trắng giá dao động từ 3.000 - 5.000 đồng/kg. Mặc dù giá giảm, nhưng cũng rất khó bán do vào đợt thu hoạch thuận mùa, cung vượt cầu. Giá bán sầu riêng giảm từ 3.000 - 4.000 đồng/kg, hiện chỉ còn 18.000 đồng/kg. Mãng cầu xiêm giá từ 11.000 - 13.000 đồng/kg, giảm 2.000 đồng/kg. Xoài cát Hòa Lộc giá 28.000 đồng/kg, giảm từ 1.000 - 2.000 đồng/kg. Trong khi đó, do thời tiết vào mùa mưa, độ ẩm trong vườn cao nên xuất hiện nhiều đối tượng sâu bệnh, dịch hại tấn công vườn cây... Các nhà chuyên môn khuyến cáo nhà vườn chủ động áp dụng các biện pháp quản lý, phòng trừ dịch hại theo nguyên tắc "4 đúng" nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan ra diện rộng. 
 
Đồng Tháp Mười: Trồng sen thu lợi nhuận cao

Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở vụ hè thu 2014, do điều kiện canh tác lúa khó khăn, nông dân vùng Đồng Tháp Mười, huyện Tân Phước (tỉnh Tiền Giang) đã chuyển đổi hơn 50 héc-ta trồng lúa năng suất thấp sang trồng sen, tập trung nhiều nhất ở các xã Thạnh Hòa, Thạnh Tân. Theo đó, có hơn 70% diện tích trồng sen trắng để lấy ngó và diện tích còn lại trồng sen hồng để lấy gương. Sen trồng chỉ sau 1 tháng tuổi đã cho thu hoạch ngó hoặc gương. 2 ngày thu hoạch một lần, với năng suất bình quân đạt từ 100 - 150 kg ngó thương phẩm/héc-ta. Hiện giá bán tại ruộng cho thương lái từ 14.000 - 16.000 đồng/kg ngó sen. Sen trồng lấy gương cho năng suất bình quân từ 60 - 70 kg/héc-ta, giá dao động từ 20.000 - 30.000 đồng/kg. Đặc biệt, nhu cầu thị trường của ngó và gương sen luôn cao nên đầu ra rất ổn định. Sau khi trừ chi phí, người dân thu lợi nhuận trên 100 triệu đồng/héc-ta/vụ. Sen rất dễ trồng trên vùng đất Đồng Tháp Mười, ít sâu bệnh, vốn đầu tư thấp. Thời vụ một mùa sen khoảng 100 ngày nên rất phù hợp trồng luân canh 2 vụ lúa, 1 vụ sen, vừa đảm bảo tránh lũ, vừa có tác dụng cải tạo đất, cắt đứt mầm bệnh để vụ lúa sau sản xuất thuận lợi hơn, tăng thêm thu nhập cho người nông dân vùng sản xuất lúa khó khăn. 
 
Long An: Bà con gặp khó vì thanh long rớt giá

Hiện nay, toàn bộ các đầu mối thu mua xuất khẩu đều ở ngoài địa phương như TP. Hồ Chí Minh và Bình Thuận nên không tránh khỏi tình trạng bán qua "cò" trung gian ép giá, doanh nghiệp hạn chế mua. Ông Cao Văn Cư - Giám đốc HTX thanh long Dương Xuân Hội (Châu Thành - Long An), cho biết: Giá thanh long ruột trắng tại nhà vườn từ 3.500 - 4.500 đồng/kg, thanh long ruột đỏ từ 5.000 - 6.000 đồng/kg. Thậm chí, ở một số đại lý treo giá bán chỉ có 1.000 - 1.500 đồng/kg. Nguyên nhân giá thanh long giảm mạnh không phải xuất khẩu không được mà do mặt hàng trái cây hiện nay đã bước vào vụ thu hoạch rộ. Mặt khác thời điểm trước đó gặp nắng hạn, trái thanh long không đạt chuẩn xuất khẩu, buộc nhà vườn chọn giải pháp bán lẻ tại các chợ để thu hồi lại vốn. Ông Nguyễn Văn Cửu, ngụ ấp An Long, xã Long Trì, huyện Châu Thành cho biết, ông trồng 350 gốc thanh long ruột trắng, do thời tiết nắng nóng kéo dài nên thanh long vườn nhà ông bị chai, phải cắt bỏ khoảng 70% diện tích, năng suất khoảng 1,5 - 1,7 tấn, giá bán 4.500 đồng/kg. Anh Nguyễn Văn Quảng (ngụ xã Vĩnh Công, huyện Châu Thành) quản lý điểm thu mua thanh long ở khu vực Vĩnh Công cho biết, mấy ngày qua dọc tuyến đường 827, đoạn từ xã Vĩnh Công về thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành, thanh long ruột đỏ bán không được, nhiều thương lái đổ bỏ thành đống. Bà Nguyễn Thị Đậm - Trưởng phòng Kinh tế huyện Châu Thành (Long An), cho biết: hiện nay, toàn huyện Châu Thành có hơn 5.000 héc-ta thanh long, trong đó có khoảng 2.000 héc-ta diện tích đang cho trái. Theo dự kiến đến năm 2020, diện tích thanh long toàn huyện sẽ nâng lên 8.000 héc-ta với năng suất bình quân từ 75.000 - 80.000 tấn/năm. 

Giá vải thiều trong tuần tại một số địa phương 
Thị trường
Giá (đồng/kg)
Lục Ngạn (Bắc Giang)
7.000 – 12.000
Tân Yên (Bắc Giang)
10.000 – 14.000
Thanh Hà (Hải Dương)
8.000
Chợ phiên Bắc Hà (Lào Cai)
10.000
Chợ phiên Lào Cai
15.000 – 20.000 

BÁN GÌ

 Sơn La: Giá ngô giảm

Hai tuần qua, giá ngô tại tỉnh Sơn La đang xuống mức thấp, giá ngô bắp tươi giảm xuống mức 4.400 đồng/kg. Không những thế, giá cước vận chuyển ngô lại tăng cao. Với sự mất cân đối này, rõ ràng cả nông dân và thương lái đều phải chịu lỗ. Tình hình này khiến các thương lái không muốn thu mua ngô của địa phương mà chuyển sang hàng nhập khẩu bởi với chi phí vận chuyển tăng cao như hiện nay, thương lái còn phải bỏ chi phí đầu tư kho chứa, xử lý mối mọt, trả lãi vay ngân hàng...  

Với điều kiện khó khăn như hiện nay, để ngô hàng hóa của tỉnh cạnh tranh được với ngô hàng hóa của nước ngoài, bà con nông dân cần phải đổi mới phương thức sản xuất, lựa chọn cây trồng phù hợp. Đồng thời thực hiện thâm canh tăng vụ, tăng cường bón phân ủ hoai mục từ cỏ rác tận dụng trong sản xuất, hạn chế bón phân hóa học để tiết kiệm chi phí, chọn ra một số giống phù hợp địa phương để gieo trồng, đảm bảo chất lượng sản phẩm đồng đều hơn.
 
 
Cần Thơ - Hậu Giang: Giá dâu bòn bon giảm mạnh

Hiện đang vào chính vụ thu hoạch, nhưng nhiều nhà vườn ở miền Tây bỏ mặc dâu bòn bon chín đầy trên cành, rụng vàng gốc cây, do giá quá thấp. Giá dâu bòn bon hiện chỉ ở mức 1.500 - 2.000 đồng/kg, chỉ bằng 1/3 giá của năm ngoái nhưng vẫn  không bán được. Với giá bán này, nhiều nhà vườn quyết định bỏ không thu hoạch do không có tiền trả công thu hái và chi phí vận chuyển từ vườn ra vựa. Nhiều vựa trái cây ở Cần Thơ và Hậu Giang đã lỡ mua của nông dân giờ cũng hấp nhận đổ bỏ. 

Giới thương lái cho biết, mấy năm trước, khách hàng Campuchia qua tận vườn đặt mua để xuất khẩu, với mức giá dao động từ 5.000 - 10.000 đồng/kg, nhưng năm nay lại không ai hỏi mua. Ngoài dâu bòn bon, các nhà vườn miền Tây cũng đang vào vụ thu hoạch rộ 4 loại dâu khác như dâu xanh, dâu Gia Bảo, dâu Xiêm và dâu Hạ Châu… Hiện giá các loại này cũng giảm mạnh so với năm trước song vẫn còn bán được.
 
Giá trứng vịt phục hồi  

Hai tuần trở lại đây, giá trứng vịt tăng 4.000 – 5.000 đồng/chục, lên mức 34.000 – 35.000 đồng/chục, giá thu mua trứng vịt từ nông dân tăng 2.600 đồng quả. Nguyên nhân khiến giá trứng vịt tăng là do nhu cầu làm trứng muối phục vụ mùa Trung thu tăng cao. Bên cạnh đó, giá cước vận chuyển tăng gấp rưỡi cũng đã tác động đến việc tăng giá trứng gà, trứng vịt... 
 
Lào Cai: Mận Bắc Hà được mùa, được giá

Mùa vụ năm nay, thời tiết thuận lợi, người trồng mận Bắc Hà (Lào Cai) được mùa, được giá. Từ cuối tháng 5 đến nay, bà con đã hái được hơn 20 tấn mận bán ra thị trường. Giá mận Bắc Hà năm nay khá cao, giá bán tại gốc 8.000 - 10.000 đồng/kg; bán buôn ở chợ là 15.000 – 20.000 đồng/kg. Cá biệt loại mận to giá lên tới 35.000 đồng/kg, cao gấp nhiều lần vụ mận năm 2013. 

Hiện Bắc Hà có trên 1.000 héc-ta mận Tam Hoa, tập trung chủ yếu ở thị trấn Bắc Hà và các xã Na Hối, Bản Phố, Thải Giàng Phố, Tà Chải với sản lượng ước đạt 10.000 tấn, tăng gấp 2 lần sản lượng niên vụ 2013 (do niên vụ 2013 chịu ảnh hưởng nhiều của giông lốc và mưa đá). Điểm đặc biệt của mận Bắc Hà là quả được phủ phấn trắng, ăn ngọt và dễ trồng nên bà con có thể trồng mận quanh nhà, trên sườn đồi...
 
Ninh Thuận: Muối tiêu thụ chậm, giá giảm

Tại Ninh Thuận, giá muối liên tục giảm và không bán được. Hiện giá muối trên đồng giảm từ 900 đồng/kg xuống còn 700 đồng/kg, giá muối ở những ruộng nhỏ lẻ nằm xa đường giao thông thì giá chỉ còn 500 - 600 đồng/kg và không tiêu thụ được. 

Theo số liệu của Sở NN&PTNT Ninh Thuận, chỉ tính trong 4 tháng qua, sản lượng muối đạt 136.559 tấn, tăng 31.662 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó muối diêm dân đạt hơn 59.000 tấn. Tuy nhiên, lượng muối bán ra chỉ được hơn 87.000 tấn. Ở huyện Ninh Hải, lượng muối diêm dân bị tồn đọng khoảng 20.000 tấn, riêng xã Tri Hải tồn gần 10.000 tấn. Nguyên nhân giá muối rớt thấp, ngoài việc “cung vượt cầu”, còn do ách tắc khâu vận chuyển muối. Trước đây, các thương lái tập kết muối và thuê tàu thuyền vào cập cảng Ninh Chữ vận chuyển với số lượng lớn ra miền Bắc tiêu thụ, đỡ tốn chi phí vận chuyển. Tuy nhiên, hiện nay cảng này không cho tàu thuyền lớn trên 500 tấn vào cập cảng, vận chuyển hàng hóa. Do vậy, trước đây giá vận chuyển muối từ Ninh Thuận đến TP. Hồ Chí Minh vào khoảng 350.000 – 400.000 đồng/tấn thì nay đội lên gấp đôi. Các thương lái cũng nhân cơ hội này “ép” giá muối xuống thấp để bù chi phí vận chuyển.

Trước thực trạng trên, UBND tỉnh Ninh Thuận đang yêu cầu Ban quản lý khai thác các cảng cá khẩn trương nạo vét và gia cố cầu cảng sớm nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, nhất là việc xuất nhập, vận chuyển muối bằng đường biển.

LUU Ý CẢNH BÁO

 Nuôi tôm thẻ chân trắng trong vùng nước ngọt: Hậu quả khôn lường 
 
Đầu tháng 6, Bộ NN&PTNT đã có văn bản gửi các tỉnh, thành trong cả nước để cảnh báo việc nuôi loại tôm này trong vùng nước ngọt. Bởi trên thực tế, việc nuôi loại tôm này có tác động rất lớn đối với môi trường và đa dạng sinh học. Đặc biệt là ảnh hưởng đến sự sụt lún đất trong khu vực, gây mặn hóa vùng nuôi, ô nhiễm nước ngầm và lâu dài sẽ ảnh hưởng đến diện tích trồng lúa và cây trồng khác xung quanh. Ngoài ra, năng suất nuôi loại tôm này ở vùng nước ngọt kém hơn vùng nước lợ và việc nuôi như vậy có nguy cơ phát sinh dịch bệnh cao. Do vậy, Bộ NN&PTNT đề nghị các cơ quan liên quan tăng cường kiểm tra, đối với những trường hợp trót nuôi thả thì sau khi thu hoạch không để nuôi thả trở lại, không để phát sinh thêm trường hợp nuôi mới.
Nuôi tự phát theo phong trào 

Theo số liệu của Tổng cục Thủy sản, chỉ tính ở vùng nước ngọt và vùng nhiễm mặn, đến nay người dân các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã tự phát nuôi tôm thẻ chân trắng hơn 1.200 héc-ta. Nhiều hộ chấp nhận đốn hạ cây trong vườn để đào ao nuôi tôm. Tại tỉnh Bến Tre, nhà nông đã chặt phá hơn 600 héc-ta đất dừa để chuyển sang nuôi tôm. Tỉnh Tiền Giang dự kiến năm 2014, diện tích tôm thẻ chân trắng sẽ tăng hơn 4 lần tôm sú... Thậm chí, nhiều hộ nông dân ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang… còn tìm cách biến nước ngọt thành nước mặn để nuôi tôm thẻ chân trắng vì lợi nhuận cao. Một trong những “sáng kiến” để lấy nước mặn là khoan giếng và nếu chưa đủ độ mặn họ sẽ rải thêm muối để nuôi bằng được con tôm thẻ chân trắng ngay vùng nước ngọt quanh năm chỉ quen với thủy sản nước ngọt, lúa, hoa màu… Mặc dù các cơ quan chức năng tỉnh đã đưa ra nhiều cảnh báo nhưng vì lợi nhuận, nhiều hộ dân vẫn lén lút đào ao nuôi tôm thẻ chân trắng. Hầu hết để có nước mặn thì nông dân bắt buộc phải khoan giếng lấy nước ngầm và rải muối trực tiếp xuống ao tôm. Điều này rất nguy hiểm vì ảnh hưởng đến quy hoạch sản xuất nông nghiệp chung, cũng như cân đối cung cầu của thị trường. Bên cạnh đó, rất nhiều hộ dân thậm chí còn không nắm được những tác hại lâu dài cũng như kỹ thuật khi nuôi tôm thẻ chân trắng nên nguy cơ nhiễm bệnh trong những mùa sau là rất cao.
Phá vỡ quy hoạch, ảnh hướng tới môi trường sinh thái

Theo nhiều chuyên gia, việc tìm mọi cách để biến nước ngọt thành nước mặn để nuôi tôm thẻ chân trắng để xảy ra tràn lan, không có giải pháp ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả khôn lường đối với môi trường sinh thái. Việc xả nước mặn ra sông sẽ gây ảnh hưởng tới việc sản xuất lúa, hoa màu của bà con nông dân xung quanh. Đặc biệt sẽ tác động xấu đến môi trường đất trồng lúa, chất lượng nguồn nước ngọt thiên nhiên và nguy cơ gây ô nhiễm tầng nước ngầm rất cao…

Cụ thể, đối với tỉnh Đồng Tháp, An Giang việc nuôi tôm thẻ chân trắng tự phát sẽ làm phá vỡ quy hoạch của địa phương bởi từ lâu việc nuôi tôm càng xanh được xem là thế mạnh của tỉnh đang được quy hoạch để phát triển bền vững. Tuy nhiên, thời gian gần đây một số xã viên chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng vì lợi nhuận khá cao. Tỉnh đã khuyến cáo các xã viên không nên tiếp tục phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng vì đây là đối tượng lạ, vốn đầu tư cao, có thể phát sinh dịch bệnh. Hiện tại ở tỉnh Đồng Tháp và An Giang bắt đầu quản lý nghiêm ngặt việc phát triển tôm thẻ chân trắng trong vùng nước ngọt. Một số hộ sau khi thu hoạch vụ đầu tiên đã tự chuyển sang nuôi các vật nuôi khác phù hợp hơn. Thế nhưng, vẫn còn nhiều hộ lén lút tiếp tục thả nuôi tôm thẻ chân trắng vì lợi nhuận cao.

Theo khuyến cáo của Tổng cục Thủy sản, chính quyền địa phương và ngành chức năng cần đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu tác hại của tôm thẻ chân trắng vùng nước ngọt. Đồng thời, siết chặt quản lý và có biện pháp nghiêm cấm việc khai thác nước ngầm để nuôi tôm… Bên cạnh đó, Tổng cục Thủy sản cũng đề nghị các Chi cục Thủy sản và các nhà khoa học thông tin rộng rãi những tác hại khi chuyển đổi sang nuôi loại tôm này trong vùng nước ngọt để người dân nắm được và hạn chế nuôi tự phát như thời gian vừa qua. Riêng Chi cục Thủy sản các tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long cần thông tin rộng rãi những tác hại, rủi ro khi chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng để người dân hạn chế tình trạng nuôi tự phát như vừa qua. Đối với các hộ dân cần chủ động lựa chọn phương thức nuôi sao cho hợp lý cũng như bám theo quy hoạch và thường xuyên nghe ngóng thông tin cung cầu thị trường, trên cơ sở đó có biện pháp điều chỉnh diện tích nuôi phù hợp. Ngoài ra, cần kiểm soát nuôi tôm theo đúng quy hoạch để ngăn ngừa và kiểm soát dịch bệnh tốt hơn.  

NHẬN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG

  Ninh Vân (Khánh Hòa): Rong mơ mất giá
 
Những năm qua, khai thác rong mơ là nghề đem lại thu nhập cao ở xã Ninh Vân (thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa), vì vậy cứ tới mùa rong mơ (khoảng đầu tháng 4 đến tháng 8 hàng năm) là cả làng đi biển, lặn rong. Có hộ thu hoạch tới hàng tấn rong mỗi ngày do quen con nước, thạo nghề lặn. Trung bình mỗi người có thể kiếm được từ 500.000 – 700.000 đồng/ngày. Nhưng từ đầu năm đến nay, giá rong khô giảm xuống 3.000 đồng/kg so với mức giá 9.000 đồng/kg trước đây (7 kg rong mơ tươi khi phơi được 1 kg khô), kéo theo thu nhập của người khai thác rong mơ cũng giảm chỉ còn khoảng 150.000 – 200.000 đồng/người/ngày. Nguyên nhân trước đây rong mơ đắt hàng là do thương lái thu mua rồi xuất khẩu theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc. Năm nay, do mặt hàng rong mơ xuất chậm nên thương lái thu mua cũng dè chừng và giá giảm nhiều. Theo những hộ làm nghề lặn rong ở xã Ninh Vân, việc khai thác rong mơ không phải dễ dàng, phụ thuộc nhiều vào thủy triều, tùy theo con nước lên xuống lúc nào thì ra biển lúc đó, thậm chí có khi 2 - 3 giờ sáng đã đi lặn. Để khai thác rong, những người đàn ông khỏe mạnh mang theo dây dẫn khí để thở, lặn xuống các ghềnh đá sâu để hái rong, gặp vạt rong nào là bứt vạt ấy, không tuân thủ biện pháp kỹ thật khai thác nào. Từ đầu năm đến nay, do giá rong mơ giảm mạnh khiến nhiều gia đình có ý định chuyển sang làm nghề khác. 

Khánh Hòa là một trong những địa phương có nguồn lợi rong mơ lớn. Rong mơ hình thành các thảm rong biển rộng từ vài héc-ta đến vài trăm héc-ta; tập trung nhiều tại vùng biển thuộc vịnh Vân Phong, vùng biển Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh… Rong mơ là giống rong có chu trình sinh sản 1 năm, vì vậy nếu không thu hoạch thì chúng sẽ thối rữa, tàn lụi. Việc khai thác rong mơ một cách hợp lý sẽ mang lại thu nhập khá cho người dân. Tuy nhiên, lâu nay tình hình khai thác và tiêu thụ rong mơ của người dân hoàn toàn tự phát. Đã đến lúc các cấp, ngành cần có định hướng và trợ giúp người dân để tránh những thiệt thòi trước sự bất ổn của thị trường.
 
Bình Thuận: Diện tích trồng thanh long phát triển “nóng” 
 
Hiện giá thanh long Bình Thuận trên thị trường đang có xu hướng giảm nhưng nhiều hộ dân trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục mở rộng diện tích.

Theo tính toán của bà con, giá lúa hiện nay khoảng 3.000 – 5.000 đồng/kg nhưng bấp bênh, làm ruộng cực mà lời lãi không nhiều, trong khi trồng thanh long trên cùng một diện tích lãi cao mà chắc ăn. Mặc dù đã có chủ trương bảo vệ đất lúa nhằm bảo đảm an ninh lương thực, nhưng do sản xuất thanh long hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với trồng lúa cho nên người dân vẫn tiếp tục phá đất lúa, trồng thanh long. Theo thống kê của tỉnh Ninh Thuận, trong tổng số diện tích thanh long của tỉnh có 6.151 héc-ta được trồng trên đất lúa những năm trước. Hiện cây thanh long đã được trồng ở 8 trong số 10 huyện, thị xã, thành phố và ngày càng mở rộng diện tích. Theo quy hoạch, diện tích trồng thanh long của Bình Thuận đến năm 2015 dự kiến là 15.000 héc-ta, nhưng hiện nay đã vượt hơn số dự kiến đó 7.000 héc-ta. 

Trong khi đó, diện tích thanh long trên toàn tỉnh Ninh Thuận là 22.000 héc-ta. Trong số này, có khoảng 17.000 héc-ta đang cho trái. Như vậy, lượng thanh long đang xuất ra thị trường là rất lớn, mỗi năm sản lượng thanh long Bình Thuận đạt trên 5.000 tấn. Hiện có hơn 75% sản lượng thanh long xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc nhưng chủ yếu xuất qua đường tiểu ngạch. Ngoài ra, còn các thị trường nhập khẩu quan trọng khác như Indonesia, Thái Lan, Hà Lan, Singapore. Theo Viện Cây ăn quả miền Nam, năm 2012, ngay sau khi trồng thử nghiệm thành công, hiện Trung Quốc đã cho triển khai trồng đại trà với quy mô khoảng 20.000 héc-ta thanh long ở 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây. Với tốc độ đầu tư đại trà, quy mô lớn, trong tương lai gần khả năng Trung Quốc sẽ cạnh tranh về diện tích và sản lượng trái thanh long với Việt Nam. Mặt khác, đến nay không chỉ ở Bình Thuận, thanh long đã phát triển ở hơn 40 tỉnh, thành phố cả nước, nhất là khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long với 2 vùng chuyên canh tập trung lớn là Long An, Tiền Giang. Vì vậy, để cây thanh long Bình Thuận phát triển bền vững, đạt hiệu quả cao rất cần những định hướng, giải pháp khoa học, thuyết phục.

CHUYỂN ĐỘNG THỊ TRƯỜNG

  Ninh Thuận: Triển khai nhiều phiên chợ hàng Việt về nông thôn 
 
Theo kế hoạch, trong thời gian từ ngày cuối tháng 5 đến cuối tháng 7/2014, tỉnh Ninh Thuận sẽ tổ chức 4 Phiên chợ hàng Việt về nông thôn tại các huyện: Ninh Phước, Ninh Hải, Bác Ái và Ninh Sơn. Yêu cầu của các phiên chợ lần này là doanh nghiệp (DN) tham gia phải đảm bảo đưa sản phẩm bày bán là hàng Việt Nam có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, có chất lượng, giá bán phải thấp hơn hoặc bằng với thị trường cùng thời điểm.

Cuối tháng 5, Phiên chợ hàng Việt về nông thôn đầu tiên đã tổ chức tại trung tâm thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước. Các mặt hàng bán tại phiên chợ đều là những mặt hàng được công nhận là hàng Việt Nam chất lượng cao, nên đã thu hút rất đông bà con địa phương đến tham quan, mua sắm. Sau thành công của phiên chợ ở huyện Ninh Phước, đầu tháng 6 vừa qua, phiên chợ thứ hai được tổ chức tại Cảng cá Mỹ Tân (xã Thanh Hải, Ninh Hải), với quy mô 21 gian hàng của 19 DN tham gia. Nét mới của phiên chợ lần này đó là hàng hóa đều do chính các nhà sản xuất trực tiếp đưa về bán chứ không thông qua các DN kinh doanh trung gian như những phiên chợ trước. Đặc biệt, trong thời gian phiên chợ diễn ra, Ban Tổ chức còn tổ chức thêm một số hoạt động như: Hội nghị tư vấn kỹ thuật nông nghiệp và kỹ năng bán hàng cho khoảng 150 hộ dân ở địa phương, giúp bà con biết phân biệt hàng thật, giả và biết cách bảo quản sản phẩm nông nghiệp; các tiểu thương hiểu được nhu cầu tiêu dùng, mức phát triển thị trường nông thôn để nâng cao khả năng kinh doanh…

Tham gia xuyên suốt chương trình Phiên chợ hàng Việt về nông thôn lần này các DN đều xây dựng cho mình một chương trình bán hàng hợp lý, sản phẩm đảm bảo chất lượng, giá cả phù hợp. Đặc biệt, để kích cầu người tiêu dùng, nhiều DN đã có những chương trình khuyến mãi, giảm giá dành cho khách hàng, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận hàng Việt Nam chất lượng cao. 
 
Quảng Trị: Xây dựng thương hiệu tinh bột nghệ vùng Cùa 
 
Nói đến vùng Cùa là nói đến những loại đặc sản đã trở thành thương hiệu nổi tiếng như tiêu, chè, bơ, cao lá vằng... Tuy nhiên, bên cạnh những đặc sản đó, thì vài năm trở lại đây, người ta còn biết đến vùng Cùa bằng một loại sản phẩm khác cũng nổi tiếng không kém đó là tinh bột nghệ.
 
Đây là một loại sản phẩm không chỉ tốt cho sức khỏe mà còn đem lại thu nhập khá ổn định và cải thiện đời sống cho rất nhiều hộ gia đình. Hiện tại tinh bột nghệ của người dân vùng Cùa đã có mặt trên thị trường trong và ngoài tỉnh Quảng Trị. 

Tinh bột nghệ ở vùng Cùa được chế biến nguyên chất từ nghệ tươi tự nhiên, có tác dụng bổ máu, làm đẹp da, phòng bệnh sản và thừa cân cho phụ nữ sau sinh, chống viêm, giải độc, bảo vệ tế bào gan, giúp tăng sức đề kháng và đặc biệt có khả năng tác động lên tế bào ung thư, có tác dụng phòng và hỗ trợ đặc biệt trong việc điều trị ung thư. Nhờ loại tinh bột nghệ này mà giờ đây nhiều hộ gia đình ở vùng Cùa có việc làm, có thu nhập tương đối cao, cuộc sống ổn định, có tiền cho con ăn học... Nghề làm tinh bột nghệ bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 7 hàng năm. Đây là một nghề mới, đòi hỏi công phu, kỹ lưỡng, tốn nhiều thời gian nhưng tương đối nhẹ nhàng, đặc biệt là đem lại thu nhập khá cao cho người dân. 

Trước đây cứ vào mùa thu hoạch nghệ, nhiều gia đình chỉ biết cắt lát phơi khô rồi đem bán nên giá trị rất thấp, thậm chí không ai mua nên người dân để luôn giữa ruộng không thu hoạch. Khoảng 2 năm trở lại đây, khách nhiều nơi tìm tới vùng Cùa mua tinh bột nghệ ngày càng nhiều, vì thế sản xuất tinh bột nghệ trở thành một nghề cho thu nhập khá cao. Hiện tại, ở vùng Cùa, xã Cam Chính có số lượng hộ gia đình làm tinh bột nghệ đông nhất với khoảng 100 hộ. Ước tính mỗi ngày toàn xã Cam Chính xuất ra thị trường từ 1,5 – 2 tạ tinh bột nghệ. 

Hiện tinh bột nghệ không chỉ mở rộng thị trường nội tỉnh mà còn có mặt ở rất nhiều tỉnh, thành trong nước. Tuy nhiên hiện nay, nghề làm tinh bột nghệ vẫn còn mang tính thủ công, nhỏ lẻ, sản phẩm vẫn chưa có thương hiệu nên thị trường chưa ổn định. Vì vậy, để giúp người dân nâng cao thu nhập bằng nghề lọc tinh bột nghệ, chính quyền địa phương đang khuyến khích người dân nên xem việc trồng nghệ như một loại cây trồng quan trọng để chủ động nguồn nguyên liệu tại chỗ, mặt khác không ngừng quảng bá để sản phẩm dễ dàng tiêu thụ và ngày càng vươn xa.  

HÀNG VIỆT

  Tín hiệu vui từ làng dệt thổ cẩm Đhrôồng 
 
Chạy dọc theo tỉnh lộ ĐT 610, nằm ẩn mình bên con suối Tà Lu, cách thị trấn P'rao (huyện Đông Giang, Quảng Nam) khoảng 3km về hướng Đông Nam là Tổ hợp tác dệt thổ cẩm thôn Đhrôồng. Đây là Tổ hợp tác đầu tiên nhằm bảo hộ thương hiệu, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm và hướng tới mục tiêu chia sẻ lợi ích cộng đồng, không chỉ tạo công ăn việc làm cho cộng đồng tộc người Cơ Tu vùng núi Quảng Nam, mà còn là điểm đến thu hút khách du lịch bốn phương.
 
Xây dựng thương hiệu

Những năm qua, làng du lịch cộng đồng thôn Đhrôồng đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ từ nhiều cơ quan chức năng và tổ chức quốc tế. Phòng Kinh tế huyện Đông Giang (Quảng Nam) phối hợp với Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tổ chức. Qua các đợt tập huấn, các thành viên tổ hợp tác được hướng dẫn cách tạo mẫu mã sản phẩm, tập huấn kỹ năng bán hàng, định giá sản phẩm, giới thiệu ẩm thực địa phương, đến trình diễn các loại hình văn hóa truyền thống phục vụ du khách. 

Theo ông Phạm Cườm, cán bộ Phòng Kinh tế huyện Đông Giang cho biết: Tổ hợp tác dệt thổ cẩm thôn Đhrôồng chính thức hoạt động từ tháng 6/2013. Khi Tổ hợp tác dệt thổ cẩm thôn Đhrôồng chính thức hoạt động, các thành viên tổ hợp tác đã có sự hưởng lợi nhất định từ những dự án. Sản phẩm du lịch đã có, việc cấp thiết là đăng ký thương hiệu tập thể cho 6 nhóm sản phẩm dệt thổ cẩm tại làng nghề. Dự kiến, cuối năm 2014, Cục Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) sẽ có quyết định công nhận nhãn hiệu tập thể với địa danh “DHROONG” theo đúng quy định của Luật Sở hữu Trí tuệ. Khi đó, Phòng Kinh tế sẽ hướng dẫn bà con cách thức quản lý nhãn hiệu tập thể sẽ giúp bảo hộ thương hiệu cho sản phẩm dệt Cơ Tu tại Đông Giang, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, tránh tình trạng hàng nhái gây ảnh hưởng tới uy tín thương hiệu. Theo đó, Đhrôồng nằm trong danh mục làng nghề được ưu tiên đầu tư của tỉnh và là làng nghề thuộc định hướng phát triển du lịch. Bên cạnh đăng ký nhãn hiệu tập thể, Đhrôồng đang nỗ lực để được  công nhận làng nghề truyền thống Quốc gia.

Đa dạng sản phẩm

Tổ hợp tác dệt thổ cẩm tại làng nghề này đang thu hút sự tham gia của 18 thành viên là phụ nữ Cơ Tu trong làng. Từ kinh nghiệm dệt truyền thống cộng với việc nâng cao tay nghề qua các đợt tập huấn, Tổ hợp tác có thể tạo ra hơn 20 loại sản phẩm dệt với đầy đủ hoa văn, màu sắc, đường nét, kích thước. Chị Pơling thị Treng - Tổ trưởng tổ hợp tác dệt thổ cẩm Đhrôồng cho biết: Sau một thời gian ngắn, sản phẩm do những người thợ dệt Cơ Tu Đhrôồng làm ra đã được khách hàng đặt mua, đặc biệt là du khách nước ngoài. Đơn đặt hàng ngày một nhiều thêm, làng dệt thổ cẩm nơi núi rừng Trường Sơn nay trở nên nhộn nhịp như một xưởng thủ công đã tạo được công ăn việc làm cho 18 chị em phụ nữ trong thôn với mức lương trung bình từ 350.000 - 400.000 đồng/tháng, cao nhất là 700.000 đồng/tháng. Các sản phẩm của nhóm dệt Cơ Tu ở thôn Đhrôồng bắt đầu được biết đến tại các hội chợ, triển lãm ở các thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng... Tổ hợp của chúng tôi bắt đầu được một vài cơ sở bán hàng lưu niệm tại Hội An, Đà Nẵng đón nhận. Một vài chủ Shop Hội An, Đà Nẵng tự thiết kế mẫu mã, yêu cầu chúng tôi làm theo mẫu sẵn có. Một đơn đặt hàng thì chọn mẫu mã từ catalogue. 
Được biết, một nhà trưng bày sản phẩm Đhrôồng được Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) hỗ trợ xây dựng với tổng giá trị 100 triệu đồng là nơi chị em tham gia dệt tại chỗ và cũng là nơi trình diễn sản phẩm du lịch cộng đồng. Tại đây, có sẵn nhiều gian trưng bày và có cả catalogue, khách có thể lựa chọn sản phẩm ưng ý, vừa túi tiền với giá trị dao động 70 - 450 nghìn đồng/sản phẩm. Gian hàng lưu niệm với đủ loại sản phẩm như nịt, giày dép, túi đựng điện thoại, túi đựng laptop, ví nam/nữ, khăn trải bàn lớn nhỏ, túi xách… đều được niêm yết giá. Ngoài dệt thủ công, chị em còn có thể tạo ra sản phẩm may theo yêu cầu nhờ được trang bị 8 máy may gần 20 triệu đồng. Tiền thu được từ bán hàng, sau khi trừ chi phí nguyên liệu, các chị chia đều nhau. Điều mong ước của chị em trong Tổ hợp là nghề thổ cẩm phát triển gắn với du lịch, phải làm sao phải mở được các điểm trưng bày quảng cáo sản phẩm truyền thống này tại các đô thị lớn. Việc này sẽ có tác dụng rất lớn trong việc đưa Đhrôồng thành điểm du lịch nằm trong các tour du lịch trên miền núi phía tây Quảng Nam. Lúc đó, sản phẩm dệt của Tổ hợp Đhrôồng sẽ trở thành hàng lưu niệm mang đậm tính văn hóa của người Cơ Tu, sẽ đứng vững và vươn ra thị trường…

NHẬN BIẾT HÀNG GIẢ, HÀNG THẬT

 Nồi cơm điện CUCKOO
 
Trên thị trường hiện nay đã xuất hiện nồi cơm điện CUCKOO giả tại một số cửa hàng nhỏ tuyến huyện hoặc các vùng sâu, vùng xa gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng. Là nhà phân phối sản phẩm mang thương hiệu Cuckoo tại Việt Nam - Trung tâm phân phối đồ điện gia dụng thuộc Công ty CP Tập đoàn Phú Thái xin thông báo để quý khách nắm bắt thông tin tránh mua bán nhầm hàng giả.

- Về mã sản phẩm:

Đối với sản phẩm CUCKOO thật, mã sản phẩm nồi 2 lít là CR1122 và CR1032 
Hàng giả mã nồi là CUCKOO CR1713 (2 lít)

- Về phía bên ngoài:

Đối với hàng thật: Vỏ hộp giấy đựng nồi và thang ghi trong ruột nồi đều là 10 cốc (cups) gạo. Còn hàng giả, vỏ ghi 17 cups (cốc) gạo trong thì  là 10 cốc gạo.
Đối với hàng thật: Hình trên vỏ hộp và nồi đựng bên trong là giống hệt nhau. Còn hàng giả thì hình vỏ hộp màu xanh, nồi bên trong màu trắng
Đối với hàng thật, ruột nồi có lớp chống dính trơn, còn hàng giả có ruột nồi sần
Hàng CUCKOO thật, có lớp sơn bên ngoài màu sắc đẹp, tinh xảo. Hàng giả thì lớp vỏ nồi thô, lớp sơn xấu.
Hàng CUCKOO thật có đầy đủ các tem phụ, tem bảo hành, tem hợp quy, tem cảnh báo, tem hướng dẫn sử dụng, phiếu bảo hành và xuất xứ sản phẩm. Đối với hàng nhái thì hoàn toàn không có.
- Về cấu tạo bên trong:
Nồi CUCKOO thật có nhiệt nắp, nhiệt thân, rơ le Hàn Quốc, các thiết bị bảo vệ như dây tiếp mát, cầu chì, điện trở nhiệt... còn hàng giả thì hoàn toàn không có, rơ le của Trung Quốc.

Sản phẩm nồi cơm điện Cuckoo được phân phối rộng khắp toàn quốc vì vậy để giữ vững uy tín thương hiệu và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, Công ty CP Tập đoàn Phú Thái sẽ không cung cấp hàng cho những nơi lưu trữ, mua bán hàng giả và sẽ có các biện pháp phối hợp cùng cơ quan chức năng để bảo vệ hàng hóa.
Đại diện công ty cũng rất mong nhận được thông tin phản hồi của quý khách hàng về những nơi buôn bán, cung cấp hàng Cuckoo giả để không làm ảnh hưởng đến lòng tin của người tiêu dùng vào sản phẩm Cuckoo. 
 
Vợt điện đuổi muỗi bị thu hồi
 
Hệ thống cảnh báo sản phẩm tiêu dùng nguy hiểm của châu Âu (RAPEX) đã công bố thu hồi 2 mặt hàng chống muỗi được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam là vợt điện chống muỗi và miếng dán chống muỗi.
 
Đây là loại vợt đuổi muỗi của hãng YPD, xuất xứ Trung Quốc bị thu hồi toàn châu Âu. Loại vợt đuổi muỗi hình vợt tenis bị đánh giá không đảm bảo an toàn trong khâu cách điện, dễ gây chập điện, cháy nổ. Sản phẩm không đạt tiêu chuẩn điện áp thấp và tiêu chuẩn châu Âu EN 60335.Trước đó, tháng 8/2013, Pháp tịch thu gần 280.000 thiết bị chống muỗi có xuất xứ Trung Quốc. Sản phẩm này bị đánh giá không đảm bảo các quy định về an toàn cho người sử dụng, có thể gây ra những nguy cơ sau: Điện giật khi vệ sinh máy; khe hở rộng, trẻ em có thể đút ngón tay vào khi máy đang hoạt động; thiếu những thông tin cơ bản về sản phẩm (đời sản xuất, hướng dẫn sử dụng...)

Miếng dán chống muỗi có tên Dekora cũng được  sản xuất tại Trung Quốc, có dạng hình tròn, in hình mặt cười bắt mắt và nhiều màu xanh, vàng, đỏ, hồng. Số mã vạch sản phẩm là 8435061727283, số model sản phẩm là 9000464. RAPEX cho biết, sản phẩm này bị thu hồi do dán nhãn không khai báo đầy đủ các hoá chất diệt sinh vật và nguy hiểm cho trẻ em. Do hình thức bắt mắt, trẻ nhỏ dễ tự động sử dụng miếng dán vào những vị trí không đúng nơi quy định hoặc ngậm, nhai miếng dán. Trên thực tế, miếng dán này không được dán trực tiếp lên da hoặc tránh dán cho những bé có da mẫn cảm… nhưng không có hướng dẫn đầy đủ cho phụ huynh. Ngoài ra, thành phần của miếng dán thường chứa tinh dầu bạc hà, bạch đàn, sả, khuynh diệp, cỏ chanh, tuyết tùng… khá đậm đặc, nếu ngửi thường xuyên chất này khó tránh làm ảnh hưởng đến sự phân biệt mùi của khứu giác trẻ.

Tại Việt Nam, miếng dán chống muỗi dạng mặt cười rất phổ biến, được chào bán ở nhiều cửa hàng và các siêu thị trực tuyến như Cucre.vn, Vatgia.com...  Tuy nhiên, các trang bán hàng trực tuyến lại quảng cáo sản phẩm an toàn khi sử dụng thậm chí với cả trẻ sơ sinh và người có da nhạy cảm.

(Thông tin do Báo Công Thương và Cổng TTĐT Ủy ban Dân tộc phối hợp thực hiện)

Tin khác