Xã, phường xã hội chủ nghĩa: Từ thí điểm đến yêu cầu phát triển bao trùm ở cơ sở

1 ngày trước |   Lượt xem: 48 |   In bài viết | 

Xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa hướng tới quản trị gần dân, đoàn kết cộng đồng và phát triển bao trùm ngay từ cơ sở. (Đồ họa minh họa có sử dụng công nghệ AI)

Từ định hướng đến những tiêu chí cụ thể

Ngày 12/7/2026, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 3489/QĐ-UBND kèm theo Đề án triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trên địa bàn Thành phố. Đề án tạo ra một khung triển khai khá đầy đủ về mục tiêu, địa bàn, lộ trình, nhiệm vụ và tiêu chí đánh giá. Hai xã liền kề Phúc Thịnh và Thư Lâm được lựa chọn thí điểm; 124 xã, phường còn lại áp dụng những tiêu chí phù hợp để triển khai. Năm 2030, Thành phố sẽ sơ kết, hoàn thiện bộ tiêu chí; giai đoạn 2031 - 2035 tiếp tục thực hiện và tổng kết Đề án vào năm 2035.

Đề án không đặt ra việc hình thành đầu mối tổ chức trung gian hoặc tăng biên chế. Trọng tâm là kiểm nghiệm các giá trị, mục tiêu, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam ở cấp cơ sở; xây dựng mô hình quản trị hiện đại, phục vụ, minh bạch, hiệu quả; lấy chất lượng sống, sự hài lòng, mức độ thụ hưởng và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo. Việc triển khai phải gắn với cải cách hành chính, chuyển đổi số và trách nhiệm giải trình.

Bộ tiêu chí của Hà Nội gồm 54 tiêu chí, thang 100 điểm, với tám nhóm nội dung chính: hệ thống chính trị và quyền làm chủ của Nhân dân; hạ tầng; kinh tế xanh, số hóa, tuần hoàn; an sinh và phát triển bao trùm; văn hóa, con người; môi trường; quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhân dân; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ngoài ra còn có hai chỉ số tổng hợp về hạnh phúc và mức độ hài lòng. Từ 90 điểm trở lên là đạt mức cao; từ 70 - 89 điểm là đạt yêu cầu; dưới 70 điểm cần tiếp tục hoàn thiện. Kết quả được dùng để đánh giá mức độ đạt tiêu chí của mô hình, không phải để phân loại địa bàn về bản chất chính trị. Cách thiết kế này giúp nhìn nhận chất lượng phát triển không chỉ qua tăng trưởng, mà còn qua sự tham gia, mức thụ hưởng và cảm nhận của người dân.

Một góc xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội - một trong hai địa phương được lựa chọn thí điểm mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa theo Quyết định số 3489/QĐ-UBND

Mỗi địa phương lựa chọn một cách làm phù hợp

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW xác định nhiệm vụ sớm hình thành các khu dân cư xã hội chủ nghĩa và thí điểm ít nhất 5 xã, phường. Đề án dự kiến hoàn thành trong năm 2026, triển khai giai đoạn 2026 - 2030, gắn với nâng cao chất lượng sống, phát triển con người và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Vì Đề án còn đang được xây dựng, cách làm của Thành phố Hồ Chí Minh hiện mới dừng ở định hướng, chưa có khung triển khai chi tiết như Hà Nội.

Lào Cai tiếp cận mô hình từ điều kiện của một tỉnh miền núi, biên giới, đa dân tộc. Tỉnh đã khảo sát tại phường Lào Cai và xã Trấn Yên, tổ chức hội thảo khoa học, bước đầu xây dựng bộ tiêu chí gồm 48 tiêu chí thuộc 5 nhóm: con người; môi trường sống; hạ tầng kinh tế - xã hội; phát triển kinh tế; hệ thống chính trị. Nhiều mục tiêu được đặt ở mức cao về bảo hiểm y tế, đào tạo lao động, dịch vụ công, số hóa dữ liệu, bảo tồn di sản và hạnh phúc. Bộ tiêu chí này đang tiếp tục được hoàn thiện cho hai địa bàn thí điểm, không phải bộ tiêu chí dùng chung cho cả nước.

Nhìn chung, các địa phương đều xem cấp xã, phường là nơi gần dân nhất để đánh giá chất lượng quản trị và mức độ thụ hưởng chính sách. Tuy nhiên, sự khác nhau về quy mô dân số, trình độ phát triển, đặc điểm đô thị - nông thôn, dân tộc, tôn giáo và nguồn lực đòi hỏi mỗi nơi phải có bộ tiêu chí phù hợp. Cách làm của Hà Nội có giá trị tham khảo, nhưng không thể sao chép nguyên trạng cho xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoặc địa bàn có mức độ đô thị hóa rất khác.

Bình đẳng dân tộc, tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải được thể hiện bằng kết quả cụ thể

Từ góc độ quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, Quyết định số 3489/QĐ-UBND có một nội dung đáng lưu ý. Trong phân công tổ chức thực hiện, Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội được giao chủ trì bảo đảm quyền bình đẳng, đoàn kết dân tộc, tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nội dung này gắn trực tiếp với các tiêu chí về an sinh, phát triển bao trùm, văn hóa, cộng đồng, an ninh và mức độ hài lòng của người dân.

Để đi vào thực chất, “phát triển bao trùm” cần được thể hiện bằng dữ liệu và trải nghiệm của người dân. Đồng bào các dân tộc có được tiếp cận bình đẳng về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin và dịch vụ công hay không? Bản sắc, tiếng nói, di sản và tri thức truyền thống có được tôn trọng, bảo tồn và phát huy gắn với sinh kế hay không? Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng có được hướng dẫn, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật hay không? Chức sắc, chức việc, người có uy tín và cộng đồng có được tham gia đối thoại, phản biện, giám sát hay không?

Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, khoảng cách địa lý, chất lượng hạ tầng, khả năng tiếp cận công nghệ số và chênh lệch mức sống cần được tính đến đầy đủ. Công tác dân tộc, tôn giáo cũng không nên chỉ được đánh giá bằng số cuộc tuyên truyền, mô hình vận động hay hồ sơ đã giải quyết. Điều quan trọng hơn là kết quả người dân thực sự nhận được, như: niềm tin đối với chính quyền; tỷ lệ kiến nghị được xử lý ngay từ cơ sở; mức độ hài lòng; sự tham gia của đồng bào các dân tộc và các tổ chức tôn giáo trong bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh, phát triển giáo dục, y tế, giữ gìn văn hóa và xây dựng cộng đồng.

Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc xây dựng mô hình cần gắn với điều kiện thực tiễn, bảo tồn bản sắc văn hóa và bảo đảm người dân được thụ hưởng thành quả phát triển.

Thí điểm phải tạo ra bài học, không tạo ra khoảng cách mới

Mô hình mới cần đủ nguồn lực để triển khai và đánh giá. Tuy nhiên, việc ưu tiên nguồn lực cho địa bàn thí điểm phải đi cùng sự minh bạch trong lựa chọn dự án, phân bổ ngân sách và đánh giá tác động. Nếu chỉ tập trung đầu tư hạ tầng để sớm hoàn thành một số tiêu chí, trong khi niềm tin, công bằng, bản sắc, sự gắn kết cộng đồng và năng lực tự quản chưa chuyển biến tương xứng, kết quả sẽ chưa phản ánh đầy đủ chất lượng phát triển.

Có thể cân nhắc khung đánh giá gồm phần cốt lõi dùng chung và phần đặc thù theo từng loại hình địa bàn. Các chỉ số đầu ra cần được đo bằng dữ liệu hành chính, khảo sát ý kiến người dân và tham vấn cộng đồng. Kết quả nên được công khai ở mức phù hợp, giải trình rõ những tiêu chí chưa đạt và điều chỉnh khi cần thiết. Đây là cách hạn chế chạy theo thành tích, bảo đảm tiêu chí phục vụ người dân, thay vì người dân phải chạy theo tiêu chí.

Người dân cần được tham gia từ khâu xây dựng kế hoạch, lựa chọn ưu tiên đến giám sát, đánh giá. Ở địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo hoặc dân cư biến động lớn, hình thức tham vấn cần đa dạng, thuận tiện, có sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, người có uy tín, chức sắc, chức việc. Đồng thuận chỉ bền vững khi được hình thành từ thông tin minh bạch, đối thoại thực chất và lợi ích được phân bổ công bằng.

Quyết định số 3489/QĐ-UBND của Hà Nội đã đặt một nền móng quan trọng khi cụ thể hóa một định hướng lớn thành mục tiêu, lộ trình, trách nhiệm và thước đo rõ ràng. Những bước chuẩn bị của Thành phố Hồ Chí Minh và Lào Cai cũng cho thấy mỗi địa phương đang tìm cách làm phù hợp với điều kiện riêng. Thành công của mô hình không nằm ở tên gọi hay điểm số, mà ở những thay đổi người dân có thể cảm nhận hằng ngày như: thủ tục thuận tiện hơn, trường học và dịch vụ y tế tốt hơn, môi trường an toàn, sinh kế bền vững, bản sắc được tôn trọng và phát huy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm, tiếng nói của cộng đồng được lắng nghe và không ai bị bỏ lại phía sau.

Xuân Thường