Đưa nguồn lực chính sách đến gần hơn với đồng bào dân tộc

5 giờ trước |   Lượt xem: 107 |   In bài viết | 

Thứ trưởng Nông Thị Hà làm việc với tỉnh Phú Thọ về công tác dân tộc, tôn giáo

Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra đối với chính sách dân tộc không chỉ là huy động và phân bổ nguồn lực, mà quan trọng hơn là tổ chức thực hiện đồng bộ, kịp thời, để mỗi chương trình, dự án thực sự chuyển hóa thành hạ tầng thiết yếu, sinh kế bền vững, việc làm, thu nhập và chất lượng cuộc sống tốt hơn cho đồng bào. Với vai trò là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đang tiếp tục hoàn thiện cơ chế, hướng dẫn triển khai và phối hợp phân bổ nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ, việc triển khai các nguồn vốn chuyển tiếp, chuẩn bị nhiệm vụ cho giai đoạn 2026–2030 và tháo gỡ những điểm nghẽn về tiến độ đang cho thấy nỗ lực đưa chính sách đến gần hơn với đời sống của đồng bào.

Chính sách chỉ thực sự phát huy giá trị khi đi qua đầy đủ các khâu từ xây dựng thể chế, xác định đúng địa bàn, đối tượng thụ hưởng, bố trí nguồn lực đến tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá kết quả. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi điều kiện địa hình, kết cấu hạ tầng và khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản còn nhiều hạn chế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.

Trong lĩnh vực công tác dân tộc, Bộ Dân tộc và Tôn giáo có trách nhiệm tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xây dựng chính sách dân tộc, chiến lược, kế hoạch và chương trình mục tiêu quốc gia; ban hành hoặc hướng dẫn thực hiện các văn bản thuộc phạm vi quản lý; theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện tại các địa phương; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn và xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách. Đây là nền tảng để nguồn lực của Nhà nước được phân bổ có trọng tâm, đến đúng địa bàn và đáp ứng sát hơn nhu cầu thực tế của đồng bào.

Khảo sát thực tế mô hình phát triển kinh tế của người dân xã Lai Đồng, tỉnh Phú Thọ

Nguồn lực phải được đo bằng chuyển biến ở cơ sở

Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cơ bản ổn định. Đồng bào các dân tộc tích cực tham gia phát triển kinh tế – xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự và xây dựng đời sống văn hóa tại khu dân cư. Các chương trình an sinh xã hội, chính sách hỗ trợ giáo dục, chăm sóc sức khỏe và phát triển sản xuất tiếp tục được các cấp, các ngành triển khai.

Tuy nhiên, những khó khăn mang tính nền tảng vẫn hiện hữu. Thu nhập của một bộ phận đồng bào còn thấp; tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng dân tộc thiểu số, miền núi và địa bàn đặc biệt khó khăn vẫn cao hơn các khu vực khác. Kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, một số nơi còn khó khăn về đất sản xuất, nước sinh hoạt, dịch vụ y tế và giáo dục. Điều kiện địa hình và trình độ tổ chức sản xuất cũng ảnh hưởng đến khả năng tạo sinh kế ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân.

Thực tiễn đó cho thấy, mục tiêu của chính sách dân tộc không thể chỉ dừng ở việc hoàn thành thủ tục hoặc phân bổ đủ nguồn vốn. Hiệu quả phải được đo bằng số công trình được đưa vào sử dụng, số hộ dân được cải thiện điều kiện ở và sản xuất, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, việc làm được tạo ra và mức sống của đồng bào được nâng lên.

Tại Phú Thọ, một kết quả cụ thể là việc nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng 8 công trình thuộc Dự án phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc Mông tại hai xã Hang Kia, Pà Cò của huyện Mai Châu trước đây, nay thuộc xã Pà Cò. Dù báo cáo chưa nêu chi tiết từng hạng mục, việc hoàn thành và đưa các công trình vào khai thác cho thấy nguồn lực chính sách đã từng bước được chuyển thành kết quả phục vụ trực tiếp địa bàn và người dân.

Toàn cảnh hai xã Hang Kia, Pà Cò của huyện Mai Châu trước đây, nay thuộc xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ. (Nguồn: sưu tầm)

Đẩy nhanh dòng vốn chuyển tiếp

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Phú Thọ trong năm 2026 là triển khai nguồn vốn các năm trước được chuyển tiếp để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Theo báo cáo của Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Phú Thọ, tổng nguồn vốn chuyển sang thực hiện trong năm 2026 là hơn 488,13 tỷ đồng, gồm khoảng 173,36 tỷ đồng vốn đầu tư và 314,77 tỷ đồng vốn sự nghiệp. Ước lũy kế đến ngày 31/5/2026, vốn đầu tư đã giải ngân 24,634 tỷ đồng; vốn sự nghiệp lũy kế đến hết ngày 30/4/2026 giải ngân 8,676 tỷ đồng.

Để tổ chức thực hiện, cơ quan chuyên môn của tỉnh đã tham mưu ban hành kế hoạch triển khai nguồn vốn chuyển tiếp; xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát, theo dõi và đánh giá kết quả; chuẩn bị hoạt động đào tạo, nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ triển khai chương trình ở các cấp; đồng thời rà soát dữ liệu về các hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã được hỗ trợ nhà ở trong giai đoạn 2021–2025.

Dù vậy, tiến độ thực hiện và giải ngân một số nội dung, dự án, tiểu dự án tại các địa phương còn chậm. Việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thay đổi đầu mối tổ chức thực hiện và năng lực chưa đồng đều của đội ngũ cán bộ cơ sở đã ảnh hưởng nhất định đến tiến độ. Một số cán bộ làm công tác dân tộc ở cấp xã còn kiêm nhiệm, thiếu ổn định và chưa có nhiều kinh nghiệm trong tham mưu, quản lý chương trình, dự án.

Đây không chỉ là vấn đề về tiến độ tài chính. Nguồn vốn chậm được giải ngân cũng đồng nghĩa với việc công trình, mô hình sinh kế và các hoạt động hỗ trợ chưa thể sớm đến với người dân. Vì vậy, cùng với trách nhiệm chủ động của địa phương, vai trò hướng dẫn, điều phối và tháo gỡ vướng mắc từ Trung ương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Yêu cầu đặt ra trong năm 2026 là đẩy nhanh giải ngân nguồn vốn Trung ương giao; kịp thời bổ sung các hướng dẫn còn thiếu, xử lý những nội dung chưa thống nhất và bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ để địa phương triển khai. Đối với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, trọng tâm là hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn trong thực hiện hợp phần phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phối hợp kiểm tra, đôn đốc nguồn vốn giai đoạn 2021–2025 được kéo dài sang năm 2026; bảo đảm chính sách đúng địa bàn, đúng đối tượng và đúng nhu cầu thiết yếu của người dân.

Chuẩn bị chính sách đúng địa bàn, đúng đối tượng

Năm 2026 cũng là thời điểm chuyển tiếp giữa hai giai đoạn chính sách. Bên cạnh việc hoàn thành các nhiệm vụ và nguồn vốn của giai đoạn 2021–2025, các địa phương phải đồng thời chuẩn bị điều kiện triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2035, giai đoạn I từ năm 2026 đến năm 2030.

Tại Phú Thọ, cơ quan chuyên môn đã rà soát mục tiêu, nhiệm vụ và nhu cầu nguồn lực thực hiện các nội dung đặc thù về phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tỉnh đồng thời tham gia góp ý dự thảo chương trình, đề xuất thành lập ban chỉ đạo và cơ quan giúp việc; phối hợp xây dựng nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách nhà nước; đánh giá hiệu quả đầu tư giai đoạn trước và dự kiến kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030.

Một nhiệm vụ có ý nghĩa trực tiếp đối với phân bổ nguồn lực là rà soát, xác định các xã, thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phân định xã khu vực I, II, III, thôn đặc biệt khó khăn; đồng thời xác định các dân tộc còn gặp khó khăn, có khó khăn đặc thù trong giai đoạn 2026–2030. Kết quả phân định không chỉ phục vụ công tác thống kê, mà còn là căn cứ quan trọng để xác định phạm vi, đối tượng và mức độ ưu tiên của từng chính sách.

Nếu địa bàn và đối tượng không được xác định chính xác, nguồn lực có thể bị dàn trải hoặc chưa đến được những nơi có nhu cầu cấp thiết nhất. Ngược lại, dữ liệu đầy đủ, cập nhật sẽ giúp cơ quan Trung ương xây dựng chính sách sát thực tiễn hơn, đồng thời tạo điều kiện để địa phương chủ động lựa chọn nhiệm vụ đầu tư, hỗ trợ phù hợp.

Vì vậy, vai trò của Bộ Dân tộc và Tôn giáo không chỉ thể hiện ở việc xây dựng chính sách chung, mà còn ở hướng dẫn phương pháp rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, tổng hợp nhu cầu từ các địa phương và tham mưu các tiêu chí phân bổ nguồn lực. Bộ cũng cần thường xuyên theo dõi biến động của địa bàn, đời sống và nhu cầu của đồng bào để kịp thời kiến nghị điều chỉnh những nội dung không còn phù hợp.

Tăng phân cấp nhưng không giảm trách nhiệm hướng dẫn

Việc tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia và tăng cường phân cấp, phân quyền mở rộng không gian chủ động cho địa phương. Các tỉnh có điều kiện lựa chọn dự án, mô hình và cách thức tổ chức thực hiện sát hơn với đặc điểm địa bàn. Tuy nhiên, phân cấp chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng hệ thống hướng dẫn rõ ràng, cơ chế phối hợp thông suốt và hoạt động kiểm tra, giám sát thường xuyên.

Trong cơ chế đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo giữ vai trò dẫn dắt về chính sách đối với hợp phần phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trên cơ sở tổng hợp kiến nghị từ cơ sở, Bộ tham mưu hoàn thiện chính sách đặc thù; phối hợp với các bộ, ngành xử lý những nội dung liên ngành; hướng dẫn địa phương xác định đúng mục tiêu, đối tượng và nhu cầu đầu tư; kiểm tra kết quả thực hiện, không chỉ qua tỷ lệ giải ngân mà còn qua chất lượng đầu ra của từng chương trình, dự án.

Định hướng này phù hợp với yêu cầu quản lý chương trình trong giai đoạn mới: kiểm tra phải đi vào hiệu quả thực chất, đánh giá được mức độ hoàn thành mục tiêu và tác động đối với đời sống người dân. Những vấn đề cấp thiết như đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt và sinh kế cần được theo dõi riêng, qua đó kịp thời nhận diện địa bàn còn thiếu hụt và điều chỉnh thứ tự ưu tiên nguồn lực.

Cùng với hoàn thiện thể chế và hướng dẫn thực hiện, nâng cao năng lực cán bộ cơ sở là điều kiện không thể thiếu. Một chính sách được thiết kế đúng nhưng cán bộ thực hiện chưa nắm chắc quy định, chưa đủ kỹ năng lập kế hoạch, quản lý dự án và tổng hợp nhu cầu thì vẫn có thể chậm đi vào cuộc sống. Việc Bộ tiếp tục tổ chức tập huấn chuyên môn, xây dựng tài liệu hướng dẫn thống nhất và hỗ trợ địa phương xử lý tình huống phát sinh sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách giữa quy định và thực tiễn.

Để mỗi đồng vốn tạo ra giá trị phát triển

Từ thực tiễn Phú Thọ có thể thấy, đưa nguồn lực chính sách đến gần hơn với đồng bào là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự gắn kết giữa Trung ương và địa phương. Trung ương cần xây dựng chính sách rõ ràng, ổn định, có khả năng thực hiện; địa phương phải chủ động rà soát nhu cầu, lựa chọn đúng nhiệm vụ, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả. Những khó khăn từ cơ sở cần được phản ánh kịp thời để cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, điều chỉnh và tháo gỡ.

Trong 6 tháng cuối năm 2026, Phú Thọ xác định tiếp tục tập trung đẩy nhanh tiến độ các chương trình, dự án và giải ngân nguồn vốn chuyển tiếp; tăng cường kiểm tra, giám sát; rà soát khó khăn, vướng mắc để có giải pháp xử lý; đồng thời hoàn thiện mục tiêu, nhiệm vụ và nhu cầu đầu tư cho giai đoạn 2026–2030. Địa phương cũng kiến nghị Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục quan tâm hướng dẫn, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn trong triển khai chương trình và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc.

Đích đến cuối cùng không phải là giải ngân hết nguồn vốn bằng mọi giá, mà là sử dụng nguồn lực đúng mục tiêu, tiết kiệm, hiệu quả và tạo được chuyển biến bền vững. Mỗi công trình hoàn thành phải đáp ứng nhu cầu thực tế; mỗi mô hình hỗ trợ phải góp phần tạo sinh kế; mỗi chính sách phải giúp người dân tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ thiết yếu và có thêm cơ hội vươn lên.

Khi công tác tham mưu chính sách của Bộ bám sát thực tiễn, sự phối hợp phân bổ nguồn lực được thực hiện chặt chẽ, hướng dẫn triển khai kịp thời và địa phương phát huy đầy đủ trách nhiệm, khoảng cách từ chính sách đến cuộc sống sẽ từng bước được rút ngắn. Đó cũng là cách để nguồn lực của Nhà nước thực sự trở thành động lực phát triển, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Nguyên Hải - Xuân Thường

Tin khác