Xây dựng đội ngũ hạt nhân nòng cốt và số hóa tri thức pháp luật: Hướng đi mới trong phổ biến, giáo dục pháp luật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

1 giờ trước |   Lượt xem: 36 |   In bài viết | 

Từ phổ biến pháp luật sang nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật

Điểm mới đáng chú ý của Quyết định số 233/QĐ-TTg là cách tiếp cận tập trung  về cơ sở, lấy người dân làm trung tâm, lấy tính phù hợp với đối tượng, địa bàn, phong tục, tập quán, ngôn ngữ và điều kiện tiếp nhận thông tin làm tiêu chí quan trọng. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, PBGDPL không thể chỉ dừng lại ở việc truyền đạt văn bản pháp luật một chiều. Muốn pháp luật đi vào đời sống, nội dung phải dễ hiểu, dễ nhớ, dễ áp dụng; hình thức phải gần gũi, linh hoạt; người truyền đạt phải có uy tín, am hiểu văn hóa cộng đồng và có khả năng kết nối giữa chính sách của Nhà nước với nhu cầu thực tế của người dân.

Vì vậy, Quyết định số 233/QĐ-TTg xác định việc xây dựng, phát triển, nâng cao năng lực đội ngũ hạt nhân nòng cốt là nhiệm vụ trọng tâm. Đây không chỉ là lực lượng “đưa pháp luật đến với dân”, mà còn là những người góp phần giải thích, định hướng, phát hiện vướng mắc, phản ánh nhu cầu pháp lý từ cơ sở, qua đó giúp công tác PBGDPL từ “phổ biến đại trà” sang “truyền thông có trọng tâm, có địa chỉ, có phản hồi”.

Đội ngũ hạt nhân nòng cốt: cầu nối giữa pháp luật, niềm tin và văn hóa cộng đồng

Theo định hướng của Đề án, đội ngũ hạt nhân nòng cốt cần được lựa chọn từ những người có kiến thức, hiểu biết pháp luật; am hiểu phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống; có uy tín trong cộng đồng; trong đó ưu tiên người có khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Đây là cách tiếp cận phù hợp, bởi ở nhiều địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, người dân tiếp nhận thông tin không chỉ bằng lý lẽ pháp lý mà còn thông qua sự tin cậy đối với người truyền đạt.

Hạt nhân nòng cốt có thể là bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng bản, người có uy tín, người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở, chức sắc, chức việc tôn giáo, người đứng đầu tổ chức tôn giáo, báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật hoặc những cá nhân tích cực tham gia hoạt động cộng đồng. Khi được bồi dưỡng bài bản, lực lượng này sẽ trở thành “điểm chạm” quan trọng giữa chính sách pháp luật và đời sống hằng ngày của đồng bào.

Điều quan trọng là đội ngũ này không chỉ cần kiến thức pháp luật, mà còn cần kỹ năng truyền thông hiện đại. Quyết định số 233/QĐ-TTg đã mở ra yêu cầu bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội trong PBGDPL. Đây là điểm rất đáng chú ý. Trong thực tiễn hiện nay, nhiều người dân, kể cả ở vùng sâu, vùng xa, đã tiếp cận thông tin qua điện thoại thông minh, mạng xã hội, các nhóm cộng đồng trực tuyến. Nếu đội ngũ hạt nhân nòng cốt biết sử dụng công cụ số, họ có thể chuyển tải pháp luật bằng các hình thức ngắn gọn, sinh động hơn như video ngắn, infographic, bản tin âm thanh, câu chuyện pháp luật, tình huống hỏi - đáp, livestream đối thoại hoặc nhóm Zalo cộng đồng.

Như vậy, hạt nhân nòng cốt trong giai đoạn mới không chỉ là người tuyên truyền miệng, mà cần trở thành người dẫn dắt pháp luật tại cộng đồng, vừa trực tiếp giải thích chính sách, vừa biết khai thác tài liệu số, vừa có khả năng lan tỏa thông tin chính thống trên môi trường mạng.

Số hóa chương trình, tài liệu PBGDPL: tạo kho tri thức pháp luật dùng chung

Một trong những mục tiêu cụ thể của Quyết định số 233/QĐ-TTg là phấn đấu số hóa 70% chương trình, tài liệu PBGDPL của Đề án trong giai đoạn 2026-2030 và số hóa 100% trong giai đoạn 2031-2035. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa nền tảng, bởi chỉ khi tài liệu được số hóa, chuẩn hóa và công khai phù hợp thì công tác PBGDPL mới có thể triển khai rộng, nhanh, đồng bộ và đo lường được hiệu quả.

Số hóa tài liệu PBGDPL không nên hiểu đơn giản là chuyển tài liệu giấy sang file PDF. Số hóa đúng nghĩa cần bao gồm việc biên tập lại nội dung theo nhiều cấp độ tiếp cận: bản đầy đủ cho cán bộ, báo cáo viên; bản tóm tắt cho tuyên truyền viên cơ sở; bản hỏi - đáp cho người dân; bản đồ họa, video, âm thanh cho truyền thông đại chúng; bản song ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số đối với địa bàn các vùng dân tộc. Cùng một chính sách pháp luật, nếu được thiết kế thành nhiều lớp thông tin, sẽ giúp từng nhóm đối tượng tiếp cận theo cách phù hợp hơn.

Đặc biệt, số hóa tài liệu còn giúp hình thành kho học liệu pháp luật dùng chung cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Kho học liệu này có thể tập trung vào những vấn đề gần với đời sống của người dân như đất đai, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng chống tảo hôn, bảo vệ môi trường, tín ngưỡng, tôn giáo, trợ giúp pháp lý, chính sách dân tộc, chính sách an sinh xã hội, phòng chống mua bán người, an ninh trật tự, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Khi được kết nối với Cổng Thông tin điện tử PBGDPL quốc gia, Cổng thông tin PBGDPL địa phương, Cổng Thông tin điện tử của Bộ Dân tộc và Tôn giáo và các kênh truyền thông số, hệ thống tài liệu này sẽ tạo thành nguồn thông tin chính thống, thống nhất, có khả năng cập nhật thường xuyên. Đây cũng là cơ sở để khắc phục tình trạng tài liệu phân tán, khó tìm, khó kiểm chứng hoặc thiếu phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Vai trò của các đơn vị chuyển đổi số trong truyền thông PBGDPL trên nền tảng số

Trong triển khai Quyết định số 233/QĐ-TTg, các đơn vị chuyển đổi số có thể phát huy vai trò là đầu mối kỹ thuật, công nghệ và tổ chức truyền thông số, hỗ trợ biến các mục tiêu của Đề án thành sản phẩm cụ thể trên môi trường số.

Trước hết, các đơn vị chuyển đổi số có thể tham gia xây dựng kiến trúc kho dữ liệu, kho học liệu PBGDPL số của bộ, ngành, địa phương. Việc này bao gồm chuẩn hóa định dạng tài liệu, phân loại nội dung theo chủ đề, địa bàn, nhóm đối tượng, ngôn ngữ, cấp độ sử dụng; đồng thời thiết lập cơ chế cập nhật, kiểm duyệt, lưu trữ và chia sẻ tài liệu giữa các đơn vị thuộc bộ, ngành trung ương và địa phương. Nếu làm tốt, mỗi chương trình, tài liệu PBGDPL sẽ không chỉ là một văn bản lưu hành nội bộ, mà trở thành một tài nguyên số có thể tìm kiếm, tái sử dụng, trích xuất và truyền thông đa nền tảng.

Thứ hai, có thể phối hợp với các đơn vị chuyên môn chuyển hóa tài liệu pháp luật thành sản phẩm truyền thông số. Các nội dung dài, khó tiếp cận cần được biên tập thành tin, bài, infographic, video ngắn, podcast, chuyên mục hỏi - đáp, tình huống pháp luật, câu chuyện pháp luật hoặc bộ câu hỏi tương tác. Đây là bước rất quan trọng, bởi người dân trên môi trường số thường tiếp nhận thông tin nhanh, ngắn, trực quan; nếu tài liệu chỉ được đăng tải dưới dạng văn bản dài, hiệu quả lan tỏa đến người dân sẽ bị hạn chế.

Thứ ba, có thể hỗ trợ bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt. Nội dung bồi dưỡng bao gồm kỹ năng khai thác tài liệu số; sử dụng mạng xã hội an toàn, hiệu quả; thiết kế thông điệp ngắn; nhận diện và xử lý thông tin sai lệch; ứng dụng công cụ trí tuệ nhân tạo trong tóm tắt, biên tập, chuyển đổi định dạng tài liệu; bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo đảm an toàn thông tin khi truyền thông pháp luật trên môi trường mạng. Khi đội ngũ cơ sở có kỹ năng số, họ sẽ không chỉ tiếp nhận tài liệu từ cấp trên mà còn có thể chủ động lan tỏa thông tin phù hợp với cộng đồng của mình.

Thứ tư, cần phát huy vai trò trong đo lường hiệu quả truyền thông PBGDPL. Trên nền tảng số, hiệu quả không chỉ được đánh giá bằng số lượng hội nghị, lớp tập huấn hay số lượng tài liệu phát hành, mà còn bằng lượt tiếp cận, lượt xem, lượt chia sẻ, câu hỏi phát sinh, mức độ tương tác, nhóm chủ đề được quan tâm, địa bàn có nhu cầu cao, thời điểm truyền thông hiệu quả. Dữ liệu này sẽ giúp cơ quan quản lý điều chỉnh nội dung, hình thức và kênh truyền thông phù hợp hơn, tránh tuyên truyền dàn trải, hình thức.

Thứ năm, các đơn vị chuyển đổi số có thể góp phần bảo đảm tính chính thống, an toàn và nhất quán của thông tin pháp luật. Trong môi trường mạng, thông tin sai lệch, cắt ghép, xuyên tạc chính sách có thể lan truyền nhanh, nhất là đối với những vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, đất đai, an sinh xã hội. Vì vậy, truyền thông PBGDPL trên nền tảng số cần có cơ chế xác thực nguồn tin, quy trình kiểm duyệt nội dung, phương án phản hồi nhanh và hệ thống kênh chính thống đủ mạnh để người dân dễ tiếp cận, dễ kiểm chứng.

Một số giải pháp để triển khai

Để Quyết định số 233/QĐ-TTg đi vào thực chất, việc triển khai cần bám sát 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của Đề án, đồng thời cụ thể hóa thành các hoạt động phù hợp với yêu cầu xây dựng đội ngũ hạt nhân nòng cốt, số hóa chương trình, tài liệu PBGDPL và phát huy vai trò của các đơn vị chuyển đổi số trong truyền thông pháp luật trên nền tảng số, cụ thể như sau:

Một là, công tác PBGDPL vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cần được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp; đồng thời xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, lâu dài, gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong Nhân dân.

Trên cơ sở nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 233/QĐ-TTg, các cơ quan, đơn vị cần xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể, phân công rõ đầu mối chủ trì, đơn vị phối hợp, sản phẩm đầu ra và thời hạn hoàn thành. Trong đó, lồng ghép nội dung PBGDPL với các chương trình, kế hoạch, đề án về công tác dân tộc, công tác tôn giáo, chuyển đổi số, truyền thông chính sách, cải cách hành chính và xây dựng chính quyền số. Việc chỉ đạo, điều hành cần chuyển đổi từ cách làm hành chính, phong trào sang cách làm có mục tiêu, có dữ liệu, có kiểm tra, đánh giá và có sản phẩm truyền thông cụ thể.

Các đơn vị chuyển đổi số cần được xác định là lực lượng hỗ trợ quan trọng trong tham mưu phương thức triển khai PBGDPL trên môi trường số; xây dựng hạ tầng lưu trữ, chia sẻ dữ liệu; hỗ trợ thiết kế chuyên trang, chuyên mục; phát triển sản phẩm truyền thông đa phương tiện; đồng thời theo dõi, đo lường hiệu quả tiếp cận thông tin pháp luật của từng nhóm đối tượng. Đây là điều kiện để công tác lãnh đạo, chỉ đạo PBGDPL không chỉ dừng ở ban hành văn bản, mà được cụ thể hóa bằng các kênh truyền thông số, dữ liệu số và sản phẩm số phục vụ trực tiếp người dân.

Hai là, đội ngũ hạt nhân nòng cốt cần được xây dựng theo hướng vừa am hiểu pháp luật, vừa am hiểu phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số; có uy tín trong cộng đồng; có khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số; đồng thời có kỹ năng truyền thông, vận động, đối thoại và xử lý tình huống phát sinh từ thực tiễn.

Việc lựa chọn đội ngũ hạt nhân nòng cốt cần mở rộng đến các lực lượng gần dân, sát dân như bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, bản, chức sắc, chức việc tôn giáo, người đứng đầu tổ chức tôn giáo, báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên ở cơ sở, cán bộ đoàn thể và những cá nhân tích cực trong cộng đồng. Khi được bồi dưỡng bài bản, lực lượng này sẽ trở thành cầu nối giữa chính sách pháp luật của Nhà nước với đời sống hằng ngày của người dân.

Bên cạnh bồi dưỡng kiến thức pháp luật, cần đặc biệt chú trọng đào tạo kỹ năng số cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt. Nội dung tập huấn nên bao gồm kỹ năng khai thác kho tài liệu PBGDPL số; sử dụng điện thoại thông minh, mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến để truyền tải thông tin pháp luật; nhận diện thông tin sai lệch, độc hại trên không gian mạng; bảo vệ dữ liệu cá nhân; ứng dụng công cụ số, trí tuệ nhân tạo ở mức phù hợp để tóm tắt tài liệu, xây dựng câu hỏi - đáp, thiết kế thông điệp ngắn, tạo sản phẩm truyền thông dễ hiểu, dễ nhớ.

Các đơn vị chuyển đổi số có thể tham gia hỗ trợ xây dựng chương trình bồi dưỡng trực tuyến, kho học liệu điện tử, video hướng dẫn, bộ câu hỏi tương tác và các tài liệu mẫu phục vụ đội ngũ hạt nhân nòng cốt. Cách làm này giúp việc bồi dưỡng không chỉ diễn ra qua các lớp tập huấn tập trung, mà còn có thể duy trì thường xuyên, linh hoạt, tiết kiệm chi phí và phù hợp với điều kiện địa bàn rộng, giao thông khó khăn.

Ba là, Quyết định số 233/QĐ-TTg đặt ra yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức PBGDPL, trong đó có nhiệm vụ xây dựng, số hóa chương trình, tài liệu, nội dung PBGDPL phù hợp với từng nhóm đối tượng, địa bàn. Đây cần được xem là nhiệm vụ nền tảng để tạo nguồn thông tin pháp luật chính thống, thống nhất, dễ khai thác và có khả năng lan tỏa rộng trên môi trường số.

Số hóa chương trình, tài liệu PBGDPL không chỉ là chuyển tài liệu giấy thành bản điện tử, mà cần được thực hiện theo hướng tái cấu trúc nội dung. Cùng một chính sách pháp luật, cần có nhiều phiên bản phù hợp với từng nhóm người dùng: bản đầy đủ cho cán bộ, báo cáo viên; bản tóm tắt cho tuyên truyền viên cơ sở; bản hỏi - đáp cho người dân; bản infographic, video ngắn, podcast, audio, tiểu phẩm, tình huống pháp luật cho truyền thông đại chúng; bản song ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số. Nội dung phải ngắn gọn, dễ hiểu, bám sát các vấn đề thiết thực như đất đai, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng chống tảo hôn, trợ giúp pháp lý, tín ngưỡng, tôn giáo, an sinh xã hội, chính sách dân tộc, bảo vệ môi trường, an ninh trật tự và các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Các đơn vị chuyển đổi số có vai trò quan trọng trong việc chuẩn hóa định dạng, phân loại dữ liệu, xây dựng kho tài liệu số, bảo đảm khả năng tìm kiếm, cập nhật, chia sẻ và tái sử dụng tài liệu PBGDPL. Đồng thời, cần tham gia phát triển các chuyên trang, chuyên mục PBGDPL; kết nối nội dung với Cổng Thông tin điện tử của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Cổng Thông tin điện tử PBGDPL quốc gia, cổng thông tin PBGDPL địa phương và các nền tảng mạng xã hội phù hợp như YouTube, Facebook, Zalo. Mỗi sản phẩm truyền thông số cần có đường dẫn về nguồn chính thống, giúp người dân dễ tiếp cận, dễ kiểm chứng, hạn chế nguy cơ tiếp nhận thông tin sai lệch.

Bên cạnh đó, cần đổi mới phương thức truyền thông theo hướng lấy tình huống pháp luật làm trung tâm. Thay vì chỉ phổ biến quy định theo lối liệt kê điều, khoản, nội dung PBGDPL nên được chuyển hóa thành các câu chuyện, vụ việc, tình huống thường gặp trong đời sống. Cách tiếp cận này phù hợp với đặc điểm tiếp nhận thông tin của người dân ở cơ sở, đồng thời giúp đội ngũ hạt nhân nòng cốt dễ sử dụng tài liệu khi tuyên truyền trực tiếp hoặc truyền thông trên môi trường số.

Bốn là, triển khai hiệu quả, công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá cần được thực hiện thường xuyên, thực chất, gắn với kết quả cụ thể. Việc đánh giá không chỉ dừng ở số lượng hội nghị, lớp tập huấn, tài liệu phát hành, mà cần bổ sung các tiêu chí phản ánh hiệu quả tiếp cận pháp luật của người dân và mức độ phát huy vai trò của đội ngũ hạt nhân nòng cốt.

Có thể xây dựng bộ chỉ số theo dõi gồm: số lượng hạt nhân nòng cốt được xây dựng, bồi dưỡng; số lượng tài liệu PBGDPL được số hóa; số lượng sản phẩm truyền thông số được đăng tải; lượt truy cập, lượt xem, lượt tải, lượt chia sẻ; số lượng câu hỏi, phản hồi của người dân; số địa phương khai thác kho tài liệu số; số chuyên trang, chuyên mục được duy trì; số hoạt động PBGDPL được triển khai trên môi trường mạng; mức độ phù hợp của tài liệu đối với từng nhóm đối tượng, địa bàn.

Các đơn vị chuyển đổi số có thể hỗ trợ xây dựng bảng theo dõi dữ liệu, công cụ thống kê, báo cáo định kỳ, phân tích xu hướng quan tâm của người dân theo chủ đề, địa bàn, thời điểm và nhóm đối tượng. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể điều chỉnh nội dung truyền thông kịp thời, tập trung vào những vấn đề pháp luật người dân đang quan tâm hoặc những địa bàn còn hạn chế trong tiếp cận thông tin pháp luật.

Cùng với kiểm tra, đánh giá, cần chú trọng tổng kết mô hình hay, cách làm hiệu quả, kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có đóng góp tích cực trong thực hiện Đề án. Lựa chọn, nhân rộng các mô hình PBGDPL ở cơ sở như nhóm pháp luật cộng đồng, chuyên mục pháp luật bằng tiếng dân tộc thiểu số, video tình huống pháp luật ngắn, tủ sách pháp luật điện tử, điểm truy cập pháp luật số tại thôn, bản, hoặc mô hình hạt nhân nòng cốt hỗ trợ người dân khai thác tài liệu pháp luật trực tuyến.

Quyết định số 233/QĐ-TTg mở ra một hướng tiếp cận mới trong công tác PBGDPL vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Theo đó, 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Quyết định số 233/QĐ-TTg có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: lãnh đạo, chỉ đạo là điều kiện bảo đảm; đội ngũ hạt nhân nòng cốt là lực lượng triển khai trực tiếp; số hóa nội dung, đổi mới phương pháp là nền tảng nâng cao hiệu quả truyền thông; còn giám sát, đánh giá là công cụ để điều chỉnh và duy trì chất lượng. Khi các nhiệm vụ này được triển khai đồng bộ, công tác PBGDPL vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ có dần chuyển đổi từ phương thức tuyên truyền truyền thống sang mô hình truyền thông pháp luật hiện đại, linh hoạt, có tương tác, có dữ liệu và phù hợp hơn với nhu cầu của người dân trong giai đoạn mới.

Thành Long