Khi chính sách hiện hữu trong từng mái nhà
08:46 AM 20/08/2026 | Lượt xem: 9 In bài viết |Từ con giống trong chuồng, dòng nước sạch về khu dân cư đến con đường cứng hóa đưa trẻ em tới trường, hiệu quả của Chương trình mục tiêu quốc gia ở một xã miền núi phía Tây tỉnh Phú Thọ đang được đo bằng những đổi thay gần gũi trong đời sống người dân. Đó không chỉ là sự hỗ trợ trước mắt, mà còn là nền tảng để đồng bào chủ động tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và từng bước vươn lên.
Từ con giống đến hy vọng về một sinh kế bền vững
Trong khu chăn nuôi của một hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Lai Đồng, đàn lợn giống được chăm sóc bằng nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương. Hình ảnh giản dị ấy cho thấy chính sách đã rời những trang văn bản để đi vào nhịp sống hằng ngày: trở thành con giống, chuồng trại và cơ hội tạo thêm thu nhập cho mỗi gia đình.
Dự án hỗ trợ nuôi lợn giống cái sinh sản có 6 hộ tham gia được triển khai công khai, dân chủ. Với địa bàn mà sinh kế của người dân chủ yếu dựa vào trồng trọt, chăn nuôi và trồng rừng, một mô hình phù hợp không chỉ giúp hộ dân có thêm tư liệu sản xuất, mà còn mở ra khả năng gây đàn, quay vòng vốn và tích lũy từ chính điều kiện sẵn có. Giá trị của hỗ trợ vì thế không dừng ở số con giống được cấp, mà nằm ở năng lực tự tổ chức sản xuất được hình thành sau đó.
Ở góc nhìn của người thụ hưởng, điều quan trọng nhất là nguồn lực có đến đúng nhu cầu và tạo ra thay đổi thực chất hay không. Chính việc người dân được biết, được tham gia lựa chọn, giám sát quá trình thực hiện đã giúp mô hình gần hơn với đời sống, đồng thời khơi dậy trách nhiệm chăm sóc, duy trì và nhân rộng kết quả. Đây cũng là cách chuyển từ “hỗ trợ cho người dân” sang “đồng hành để người dân tự vươn lên”.
Những con số được nhìn thấy bằng chất lượng cuộc sống
Lai Đồng là xã khu vực III, có hơn 16.200 người, trên 93% là đồng bào dân tộc thiểu số; 14 trong số 16 thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn. Địa bàn rộng, đồi núi chia cắt, nhiều khu dân cư xa trung tâm khiến chi phí đầu tư lớn và việc tiếp cận các dịch vụ thiết yếu từng là trở ngại thường trực đối với người dân.
Trong điều kiện đó, kết quả của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2025 hiện lên rõ nhất ở những nhu cầu thiết thân. Đường ô tô đến trung tâm xã và đến trung tâm các thôn đã được nhựa hóa hoặc cứng hóa; trường, lớp học và trạm y tế được kiên cố hóa; 100% hộ được sử dụng điện lưới quốc gia; 100% đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
Mỗi chỉ tiêu hoàn thành là một thay đổi cụ thể đối với người dân: đường thuận lợi hơn giúp nông sản đi ra thị trường; điện ổn định phục vụ sinh hoạt và mở rộng sản xuất; nước hợp vệ sinh giảm gánh nặng lấy nước và nguy cơ bệnh tật; trường học kiên cố giúp con em đồng bào có môi trường học tập an toàn hơn. Một công trình cấp nước sinh hoạt tập trung được Đoàn công tác của Bộ Dân tộc và Tôn giáo khảo sát hiện phục vụ 103 hộ dân — con số không lớn nếu nhìn trên quy mô toàn tỉnh, nhưng là thay đổi trực tiếp trong đời sống của hơn một trăm gia đình.
Công trình cấp nước sinh hoạt tập trung được hình thành từ nguồn vốn Chương trình MTQG tại xã Lai Đồng
Cùng với hạ tầng, khả năng tiếp cận giáo dục và y tế được nâng lên. Tỷ lệ trẻ 5 tuổi, học sinh tiểu học và trung học cơ sở đến trường đạt 100%; 99,8% người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông. Toàn bộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tham gia bảo hiểm y tế; 100% phụ nữ mang thai được khám thai định kỳ và sinh con tại cơ sở y tế hoặc có nhân viên y tế hỗ trợ. Những kết quả này tạo nên “hạ tầng con người” — điều kiện căn bản để giảm nghèo không chỉ trong một thế hệ.
Thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số năm 2025 đạt 37,5 triệu đồng/người/năm, tăng 2,7 lần so với đầu kỳ. Đằng sau mức tăng ấy là sự cộng hưởng của hạ tầng, sinh kế, đào tạo nghề và dịch vụ xã hội. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp đạt 53,5%; nhiều hộ được hỗ trợ nhà ở, chuyển đổi nghề và nước sinh hoạt phân tán. Chính sách vì vậy không tác động riêng lẻ, mà từng bước tạo thành hệ sinh thái giúp người dân ổn định cuộc sống và có thêm điều kiện phát triển sản xuất.
Để người dân tiếp tục là trung tâm của Chương trình
Những kết quả đạt được là rõ ràng, nhưng hành trình giảm nghèo bền vững tại Lai Đồng vẫn còn nhiều việc phải làm. Cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo của xã còn 12,95%, hộ cận nghèo 5,19%; tỷ lệ nghèo đa chiều là 18,14%. Trong 454 hộ nghèo, có 441 hộ là người dân tộc thiểu số. Mức giảm nghèo năm 2025 đạt 2,2%, vẫn thấp hơn mục tiêu bình quân trên 3% mỗi năm của Chương trình.
Nhu cầu thực tế của người dân cũng cho thấy khoảng trống cần tiếp tục được lấp đầy. Một số khu vùng cao, vùng xa còn thiếu nước vào mùa khô; lưới điện hạ thế ở nơi xa trung tâm đã xuống cấp; 53 hộ tại Bản Lài, Vường và Suối Nhạ có nhu cầu hỗ trợ đất ở, 18 hộ cần hỗ trợ nhà ở. Nhiều tuyến đường, công trình thủy lợi, trường học, nhà văn hóa và kè chống sạt lở vẫn cần được sửa chữa, nâng cấp để bảo đảm an toàn và phục vụ sản xuất.
Thực tế này nhắc rằng hiệu quả chính sách không thể chỉ đánh giá bằng số vốn đã bố trí hay số công trình đã hoàn thành. Quan trọng hơn là công trình có vận hành bền vững, mô hình sinh kế có đầu ra, người dân có việc làm và thu nhập ổn định hay không. Với các dự án sản xuất, hỗ trợ con giống cần đi cùng hướng dẫn kỹ thuật, phòng chống dịch bệnh, liên kết tiêu thụ và theo dõi khả năng nhân rộng. Với hạ tầng, đầu tư mới phải gắn với duy tu, bảo trì và vai trò giám sát của cộng đồng.
Đó cũng là yêu cầu được Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Hải Trung nhấn mạnh khi làm việc với tỉnh Phú Thọ: Không “hạ tầng hóa” Hợp phần thứ hai; bên cạnh công trình thiết yếu phải quan tâm tương xứng đến phát triển sản xuất, sinh kế, việc làm, liên kết tiêu thụ sản phẩm và kinh tế cộng đồng. Hiệu quả Chương trình cần được đo bằng số người thực tế được thụ hưởng, chất lượng công trình, việc làm, thu nhập và sự hài lòng của người dân.
Từ chuồng lợn giống của một hộ dân đến dòng nước sạch của 103 gia đình, mỗi kết quả tuy nhỏ trong bảng tổng hợp nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với cuộc sống thường ngày. Khi nguồn lực được phân bổ đúng trọng tâm, triển khai công khai và gắn với nhu cầu thực tế, người dân không chỉ là đối tượng nhận hỗ trợ mà trở thành chủ thể của quá trình phát triển. Chính từ những sinh kế nhỏ, những công trình thiết yếu và sự chủ động ấy, đổi thay bền vững được vun đắp trong từng mái nhà, từng thôn bản.
Xuân Thường

