Phê duyệt Đề án phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2035
10:13 AM 05/02/2026 | Lượt xem: 6122 In bài viết |Ngày 03/02/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 233/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2035”.
Mục tiêu của Đề án là đổi mới toán diện công tác phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) để tạo đột phá về nhận thức, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, hình thành thói quen tự giác tìm hiểu pháp luật phù hợp với đặc thù của đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu quả công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc và lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước
Giai đoạn 2026 – 2030, Đề án phấn đấu đào tạo, bồi dưỡng khoảng 650 người theo chương trình, tài liệu của Đề án để trở thành đội ngũ hạt nhân nòng cốt triển khai thực hiện công tác phổ biến giáo dục pháp luật tại các địa phương.
Phấn đấu 100% địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoàn thành xây dựng, ban hành chương trình, tài liệu bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật đặc thù phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Phấn đấu số hóa 70% chương trình, tài liệu PBGDPL của Đề án và công bố công khai trên Cổng thông tin PBGDPL Quốc gia, Cổng thông tin PBGDPL địa phương, mạng internet hoặc được xuất bản, phát hành bằng hình thức phù hợp.
Phấn đấu mỗi xã đặc biệt khó khăn có ít nhất 02 người làm công tác PBGDPL được bồi dưỡng theo bộ chương trình, tài liệu của Đề án để triển khai công tác PBGDPL trên địa bàn.
Khoảng 50% người dân sinh sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; 60% người dân sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự; 70% người dân thuộc nhóm dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù được PBGDPL bằng hình thức phù hợp. Trong đó, ít nhất 30% hoạt động PBGDPL được thực hiện bằng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, 50% hoạt động PBGDPL được thực hiện thông qua môi trường số.
Giai đoạn 2031-2035, Đề án sẽ đào tạo, bồi dưỡng khoảng 1.300 người để trở thành đội ngũ hạt nhân nòng cốt triển khai thực hiện công tác PBGDPL tại địa phương.
Phấn đấu 100% chương trình, tài liệu PBGDPL đã ban hành được cập nhập, chỉnh lý hoặc ban hành mới; số hóa 100% chương trình, tài liệu PBGDPL; mỗi xã vùng đồng bào DTTS và miền núi có ít nhất 2 người tham gia công tác PBGDPL; 100% đội ngũ hạt nhân nòng cốt, người làm công tác PBGDPL được bồi dưỡng, tập huấn, tiếp cận và sử dụng tài liệu PBGDPL bằng hình thức phù hợp.
Phấn đấu 100% bí thư chi bộ; Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, bản; chức sắc, chức việc tôn giáo, người đứng đầu các tổ chức tôn giáo được bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức, nghiệp vụ PBGDPL.
Khoảng 70% người dân sinh sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; 60% người dân sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự; 90% người dân thuộc nhóm dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù được PBGDPL bằng hình thức phù hợp. Trong đó, ít nhất 50% hoạt động PBGDPL được thực hiện bằng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, 80% hoạt động PBGDPL được thực hiện bằng môi trường số.
Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án thực hiện đồng bộ 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và trách nhiệm của người đứng đầu địa phương trong công tác PBGDPL.
Chuyển đổi nhận thức của các cấp, các ngành nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức về vai trò, tầm quan trọng của công tác PBGDPL nói chung, PBGDPL cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng. Bảo đảm các hoạt động PBGDPL được triển khai thực hiện thường xuyên, liên tục, kiên trì, kiên định, hiệu quả, từng bước nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số, người dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ưu tiên bố trí nguồn lực tương xứng cho công tác PBGDPL đối với người đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Lồng ghép thực hiện các hoạt động của Đề án trong các chương trình, kế hoạch công tác của cấp ủy, chính quyền các cấp; xác định việc hoàn thành nhiệm vụ PBGDPL là một tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn của Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp trong việc thực hiện Đề án phù hợp đặc thù của địa phương, bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL trên địa bàn.
Thứ hai, xây dựng, phát triển và nâng cao năng lực cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác PBGDPL
Xây dựng đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác PBGDPL có trình độ, kiến thức, hiểu biết pháp luạt, am hiểu phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, ưu tiên người có khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số.
Thu hút sự tham gia và tăng cường vai trò của bí thư chi bộ, trưởng thôn, bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, bản; chức sắc, chức việc tôn giáo, người đứng đầu các tổ chức tôn giáo trong công tác PBGDPL
Định kỳ hàng năm tổ chức bồi dưỡng, tập huấn về kiến thức pháp luật, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên biệt (kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số, sử dụng AI…)
Thứ ba, đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức PBGDPL
Xây dựng nội dung PBGDPL phù hợp với từng nhóm đối tượng gắn với phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; gắn với phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết sinh kế, việc làm, an sinh xã hội; gắn với việc tuyên truyền về giáo lý, giáo luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số có đạo
Xây dựng, biên soạn chương trình, tài liệu phổ biến giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn của Đề án. Định kỳ rà soát, cập nhật, bổ sung thông tin và các quy định mới, nội dung mới.
Củng cố, xây dựng và duy trì các mô hình PBGDPL tại cộng đồng, hướng hoạt động PBGDPL về cơ sở, thực hiện PBGDPL trên môi trường số như ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, chuyển đổi số, sử dụng các phần mềm chuyên dụng, mạng xã hội
Rà soát tập quán, hủ tục trái với quy định của pháp luật; tuyên truyền, vận dộng xóa bỏ cơ bản hủ tục
Về phương thức, hình thức: củng cố, xây dựng và duy trì các mô hình PBGPPL tại cộng đồng, hướng hoạt động PBGDPL về cơ sở, thực hiện PBGDPL trên môi trường số như ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, chuyển đổi số; Tổ chức "Ngày pháp luật Việt Nam", thi tìm hiểu pháp luật, phiên tòa giả định, xét xử lưu động, hội nghị, hội thảo; ưu tiên PBGDPL bằng tiếng dân tộc thiểu số với hình thức phù hợp cho đồng bào dân tộc thiểu số không biết tiếng phổ thông; số hòa và công bố công khai toàn bộ chương trình, tài liệu PBGDPL trên Cổng thông tin PBGDPL Quốc gia, Cổng thông tin PBGDPL địa phương, mạng internet....
Thứ tư, nâng cao năng lực, giám sát, đánh giá thực hiện Đề án; định kỳ tổ chức đối thoại, hội nghị, hội thảo, tọa đàm và các hoạt động khác để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, mô hình, cách làm hay, hiệu quả; từng bước đổi mới, nâng cao chất lượng công tác PBGDPL phù hợp với đối tượng, địa bàn của Đề án
Tổ chức học tập, trao đổi kinh nghiệp trong và ngoài nước nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ gắn với thực tiễn, đặc thù của Đề án.
Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện Đề án bằng hình thức phù hợp, thực chất nhằm kịp thời tháo gỡ, vướng mắc, bất cập và bào cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh (nếu cần). Thực hiện sơ kết, tổng kết để nhân rộng các mô hình tiêu biểu, điển hình trong triển khai Đề án.
Thực hiện khen thưởng và có hình thức động viên tôn vinh kịp thời các tổ chức, cá nhân có sáng kiến, giải pháp thực hiện hiệu quả Đề án.
Thời gian thực hiện của Đề án là từ năm 2026 đến hết năm 2035. Bộ Dân tộc và Tôn giáo được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương để tổ chức thực hiện Đề án. Đồng thời, Bộ Dân tộc và Tôn giáo sẽ chủ trì, phối hợp với cơ quan thông tấn, báo chí, truyền thông tổ chức thực hiện PBGDPL về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế -xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Hướng dẫn, triển khai thực hiện Đề án; biên soạn chương trình, tài liệu và tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác PBGDPL, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, không chồng chéo về nội dung và đối tượng bồi dưỡng với các Đề án khác đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Tổ chức khảo sát, chia sẻ, học tập kinh nghiệm thực hiện công tác PBGDPL ở trong và ngoài nước; Biểu dương, khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực, hiệu quả trong việc thực hiện Đề án; Kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Hương Huyền

