Sử dụng hiệu quả nguồn lực vùng dân tộc thiểu số khi chính sách không còn đối tượng hỗ trợ

11:37 PM 30/10/2026 |   Lượt xem: 70 |   In bài viết | 

Nguồn lực còn, đối tượng hỗ trợ thay đổi

Trong quá trình triển khai các chương trình, chính sách dân tộc, việc xác định đúng đối tượng thụ hưởng có ý nghĩa quan trọng, quyết định hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân. Tuy nhiên, khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi, số hộ nghèo, hộ cận nghèo giảm hoặc một số nhu cầu hỗ trợ đã được giải quyết, những nội dung chính sách được xây dựng theo nhóm đối tượng trước đây có thể không còn phù hợp với thực tiễn.

Đây là một trong những khó khăn được Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi chỉ rõ tại Báo cáo số 226/BC-SDTTG ngày 05/9/2026 về kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo 9 tháng đầu năm và nhiệm vụ 3 tháng cuối năm 2026.

Theo báo cáo, kế hoạch vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2026 trên địa bàn tỉnh là hơn 1.061 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư công hơn 183 tỷ đồng, vốn sự nghiệp hơn 877 tỷ đồng.

Tính đến hết ngày 31/7/2026, kinh phí thực hiện đạt hơn 86,4 tỷ đồng, tương đương 8,14% kế hoạch. Đáng chú ý, vốn sự nghiệp mới thực hiện gần 42,9 tỷ đồng, đạt 4,9% kế hoạch vốn.

Bên cạnh những khó khăn về tiến độ, báo cáo của Sở xác định một số nguyên nhân ảnh hưởng đến việc triển khai Chương trình, trong đó có tình trạng một số nội dung không còn đối tượng hỗ trợ, một số nội dung không thực hiện được hoặc định mức hỗ trợ thấp, chưa khuyến khích người dân tham gia.

Những vấn đề trên cho thấy, khó khăn trong sử dụng nguồn lực không chỉ xuất phát từ khâu tổ chức thực hiện mà còn liên quan đến sự phù hợp giữa nội dung chính sách, điều kiện thụ hưởng và nhu cầu thực tế tại từng địa bàn.

Khi số lượng đối tượng thuộc diện hỗ trợ thay đổi, việc tiếp tục triển khai theo kế hoạch ban đầu có thể gặp trở ngại. Ngược lại, nếu chỉ căn cứ vào tiến độ giải ngân để đánh giá kết quả mà chưa xem xét đầy đủ nhu cầu và khả năng thực hiện, nguồn lực chính sách có nguy cơ chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn.

Đáng lưu ý, việc một nội dung không còn đối tượng thụ hưởng không đồng nghĩa địa bàn đó đã hết khó khăn hoặc không còn nhu cầu đầu tư, hỗ trợ. Vấn đề đặt ra là phải xác định rõ những nhu cầu nào đã được giải quyết, những nhu cầu nào tiếp tục phát sinh và nội dung nào cần được ưu tiên trong giai đoạn tiếp theo.

Từ thực tiễn cơ sở: Nhu cầu phát triển không dừng lại khi hộ dân thoát nghèo

Tại xã Đăk Tờ Kan, tỉnh Quảng Ngãi, những thay đổi về đối tượng thụ hưởng chính sách đang đặt ra yêu cầu mới đối với công tác hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trao đổi về việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia tại địa phương, ông Trần Thanh Hoàng, Phó Chủ tịch UBND xã Đăk Tờ Kan cho biết, trong giai đoạn trước, các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt và phát triển sản xuất đã được địa phương triển khai, góp phần giải quyết những nhu cầu thiết yếu của người dân.

Cùng với việc thực hiện chính sách giảm nghèo, số hộ thuộc diện hỗ trợ theo một số nội dung của Chương trình giảm dần. Đây là kết quả tích cực về mặt giảm nghèo, song cũng làm thay đổi điều kiện tổ chức thực hiện những chính sách có đối tượng thụ hưởng được xác định theo tình trạng hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Theo ông Hoàng, một trong những vấn đề địa phương quan tâm là khả năng tiếp tục hỗ trợ phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để nâng cao thu nhập cho người dân vùng đặc biệt khó khăn.

Thực tế cho thấy, các hộ dân sau khi thoát nghèo vẫn có thể đối mặt với những hạn chế về điều kiện sản xuất, nguồn vốn và khả năng phát triển sinh kế. Nếu thiếu các điều kiện cần thiết để duy trì thu nhập, kết quả giảm nghèo có thể chưa thực sự bền vững.

Tại Đăk Tờ Kan, sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào. Tuy nhiên, điều kiện đất đai giữa các hộ không đồng đều, diện tích sản xuất phân tán, gây khó khăn khi tổ chức một số mô hình sản xuất tập trung.

Từ thực tiễn đó, ông Trần Thanh Hoàng đề xuất nghiên cứu mở rộng phạm vi hỗ trợ phù hợp với điều kiện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời quan tâm bố trí nguồn lực cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thay thế những loại cây trồng kém hiệu quả bằng các mô hình có giá trị kinh tế cao hơn.

Đề xuất này phản ánh nhu cầu phát triển sản xuất không chỉ ở nhóm hộ nghèo mà còn ở những hộ dân đang từng bước ổn định đời sống, cần tiếp tục nâng cao năng lực sản xuất để tránh nguy cơ tái nghèo.

Tuy nhiên, việc mở rộng đối tượng thụ hưởng không thể thực hiện đồng loạt hoặc vượt ra ngoài các điều kiện pháp luật quy định. Mỗi chính sách có mục tiêu, phạm vi và tiêu chí riêng. Vì vậy, cần phân biệt những nội dung hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, hộ cận nghèo với các chính sách đầu tư phát triển sản xuất, hạ tầng và nâng cao năng lực dành cho địa bàn, cộng đồng hoặc những nhóm đối tượng khác.

Đây cũng là cơ sở để các địa phương rà soát, xác định chính xác nhu cầu, tránh tình trạng một nội dung không còn đối tượng hỗ trợ trong khi những nhu cầu phát triển thiết yếu khác chưa được đáp ứng đầy đủ.

Ông Trần Thanh Hoàng, Phó Chủ tịch UBND xã Đăk Tờ Kan, tỉnh Quảng Ngãi chia sẻ về thực tiễn thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn xã

Rà soát, điều chỉnh nguồn lực gắn với yêu cầu thực hiện chính sách giai đoạn mới

Trước những khó khăn phát sinh, công tác kiểm tra, đánh giá và hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc có vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia.

Theo Báo cáo số 226/BC-SDTTG, trong 9 tháng đầu năm 2026, Sở Dân tộc và Tôn giáo Quảng Ngãi đã tổ chức 4 đợt kiểm tra, trong đó có nội dung rà soát, đề xuất điều chỉnh, bổ sung kinh phí chi thường xuyên từ những hoạt động đã hoàn thành nhiệm vụ chi sang các nội dung khác thuộc Chương trình tại 10 xã.

Đồng thời, Sở phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra việc đề xuất danh mục đầu tư, đánh giá hiệu quả hỗ trợ cây trồng, vật nuôi và kiểm tra kết quả thực hiện Chương trình tại các xã khu vực III. Qua đó, hướng dẫn các địa phương tháo gỡ khó khăn, bảo đảm quản lý, sử dụng nguồn lực đúng quy định.

Từ thực tiễn Quảng Ngãi có thể thấy, việc rà soát cần được thực hiện ngay từ khâu xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch và lựa chọn nội dung hỗ trợ. Những nhiệm vụ không còn đối tượng thụ hưởng hoặc không có khả năng thực hiện cần được phân loại, làm rõ nguyên nhân để có phương án xử lý phù hợp theo thẩm quyền.

Đây cũng là yêu cầu đã được đặt ra trong Chương trình công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, ban hành kèm theo Quyết định số 82/QĐ-BCĐCTMTQG ngày 27/7/2026. Theo đó, các bộ, ngành và địa phương được yêu cầu thường xuyên rà soát, kịp thời điều chỉnh, điều chuyển vốn đối với những nhiệm vụ, dự án chậm triển khai, không còn đối tượng thụ hưởng hoặc không có khả năng thực hiện theo quy định pháp luật.

Yêu cầu này càng có ý nghĩa trong bối cảnh chính sách bước sang giai đoạn mới.

Ngày 24/8/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035 trên cơ sở hợp nhất bốn chương trình mục tiêu quốc gia.

Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 387/2026/NĐ-CP ngày 12/10/2026 quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình.

Đối với lĩnh vực dân tộc, Nghị định dành Điều 12 và Phụ lục VII quy định các chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có hỗ trợ các điều kiện thiết yếu, phát triển sản xuất, sinh kế, đầu tư hạ tầng và nâng cao năng lực cộng đồng.

Đáng chú ý, cơ chế quản lý, huy động, lồng ghép, phân bổ và sử dụng nguồn lực được quy định trong Chương III của Nghị định, tạo cơ sở pháp lý để tổ chức thực hiện Chương trình theo hướng thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm.

Tại Hội nghị triển khai Chương trình ngày 15/10/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu việc tích hợp các chương trình phải khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực; đồng thời không làm gián đoạn nhiệm vụ, chính sách và quyền lợi hợp pháp của người dân.

Thủ tướng cũng nhấn mạnh yêu cầu ưu tiên nguồn lực cho những nhiệm vụ thiết yếu tác động trực tiếp đến đời sống người dân, nhất là nước sinh hoạt, đất ở, đất sản xuất và tổ chức sản xuất; lấy kết quả thực hiện mục tiêu, hiệu quả sử dụng nguồn lực và mức độ thụ hưởng thực tế làm thước đo đánh giá hiệu quả Chương trình.

Trong cơ chế mới, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được giao chủ trì quản lý các nội dung chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; theo dõi địa bàn, đối tượng và tổng hợp kết quả thực hiện Chương trình trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Việc triển khai các quy định mới đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương tiếp tục rà soát nhu cầu, cập nhật đối tượng, lựa chọn nội dung phù hợp, đồng thời thực hiện việc điều chỉnh, sử dụng nguồn vốn theo đúng thẩm quyền và quy định áp dụng đối với từng nguồn kinh phí.

Từ những vấn đề đặt ra tại Quảng Ngãi, có thể thấy yêu cầu nâng cao hiệu quả chính sách dân tộc không chỉ nằm ở việc phân bổ và giải ngân hết nguồn vốn được giao, mà còn ở khả năng đưa nguồn lực đến đúng nhu cầu, tạo điều kiện để người dân phát triển sản xuất và ổn định đời sống lâu dài.

Khi điều kiện kinh tế - xã hội và đối tượng thụ hưởng thay đổi, việc kịp thời nhận diện những bất cập, tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành và hướng dẫn tháo gỡ khó khăn từ cơ sở sẽ góp phần hạn chế lãng phí nguồn lực, nâng cao chất lượng thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc.

Quan trọng hơn, hiệu quả cuối cùng của chính sách cần được thể hiện bằng những chuyển biến thực chất trong đời sống, thu nhập và khả năng phát triển bền vững của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là tại các địa bàn còn nhiều khó khăn.

Thành Long